tháng mười 2018

Đài BBC Việt ngữ có đề nghi tui phát biểu về suy nghĩ của tui trước việc nhà văn Kim Dung vừa qua đời. Đành viết vội mấy dòng như ghi lại những ký ức về những tháng năm tuổi trẻ mê đắm truyện Kim Dung
MẤY SUY NGHĨ VỀ TIỂU THUYẾT KIẾM HIỆP CỦA KIM DUNG
Tài năng đầu tiên người đọc cảm phục nhà văn Kim Dung là khả năng xây dựng tính cách nhân vật. Tiểu thuyết của ông có hàng trăm hàng ngàn nhân vật, nhưng mỗi người có một tính cách riêng, khó lẫn vào nhau, trở thành tên hiệu nhiều độc giả dùng làm biệt hiệu để thể hiện tính chất của riêng mình. Trong Thiên Long bát bộ có 230 nhân vật, trong đó có nhân vật như Đoàn Dự, Đoàn Chính Thuần, Đoàn Chính Minh, Liêu Đạo Tông và Kim Thái Tổ được dựa trên các nhân vật có thật. Phần còn lại là hư cấu. Nhân vật của Kim Dung có đủ loại hạng người. Chính có, tà có. Có kẻ vừa chính vừa tà như Vi Tiểu Bảo. Có kẻ nguỵ quân tử như Nhạc Bất Quần. Khi nhận xét với "Quân Tử Kiếm" Nhạc Bất Quần, Nhậm Ngã Hành có một câu nói nổi tiếng:
"Ðối phó với kẻ chân tiểu nhân là một chuyện dễ, nhưng đối phó với người "ngụy" quân tử thật khiến cho người ta phải điên đầu." Mà loại người như Nhạc Bất Quần thì thời nào cũng có.
Từ Quách Tĩnh, Hoàng Dung trong Anh hùng xạ điêu cho đến Kiều Phong, Đoàn Dự trong Thiên Long Bát Bộ, rồi Lệnh Hồ Xung trong Tiếu ngạo giang hồ và Trương Vô Kỵ trong Ỷ thiên Đồ Long ký, tất cả họ đều là những kẻ tài nghệ vô song, thế nhưng họ gặp nhiều nghịch cảnh. Và nổi bật hơn cả đó là nỗi cô đơn của kẻ anh hùng. Trong chốn giang hồ, họ lắm kết giao nhưng vẫn là những người đi trên hành trình cô độc với những tính chất chẳng có nhân vật nào trùng lắp.
Nổi bật lên là nhân vật Vi Tiểu Bảo trong Lộc Đỉnh Ký, một trong hai cuốn sách cuối cùng của Kim Dung. Đó là một nhâm vật đặc biệt mà có người cho rằng đó là nhân vật hay nhất, thành công nhất của Kim Dung. Cũng có người không e ngại mà tôn Lộc Đỉnh Ký là kỳ thư.
Xuất thân từ kỹ viện lại lớn lên ở hoàng cung, Vi Tiểu Bảo là người khôn lanh, giảo hoạt. Y gian manh mà không ác độc, xảo quyệt mà không hèn hạ, tham lam nhưng lúc cần chẳng tiếc của. Y ít học, chẳng có võ công, ăn tục nói phét, nói năng tục tĩu, chửi thề luôn miệng nhưng người ta khoái y chửi vì y chửi đúng người, đúng lúc, đúng tội. Y cũng là người có nghĩa khí và trọng nghĩa. Những mâu thuẫn về mặt tính cách của Vi Tiểu Bảo cho thấy nhân vật này thật gần gũi trong đời sống, bình thường dễ bắt gặp, khác xa những nhân vật lý tưởng trong những cuốn khác của Kim Dung.
Hành trình xây dựng nhân vật của nhà văn Kim Dung là một tiến trình có nhiều thay đổi đáng kể. Từ một Trương Vô Kỵ, nhân vật anh hùng võ công thượng thừa, có những tính chất của một hảo hán lý tưởng đến Lệnh Hồ Xung giao thoa giữa chính tà, sống tự do như cánh chim, vượt ra khỏi khuôn mẫu để được sống như một kẻ giang hồ thứ thiệt. Lệnh Hồ Xung cũng là một nhân vật đẹp khá toàn vẹn của Kim Dung. Và cuối cùng là Vi Tiểu Bảo, nhân vật châm biếm, ba trợn hoàn toàn khác với những nhân vật trước đó nhưng gây ấn tượng mạnh mẽ trong lòng người đọc.
Đọc Kim Dung, người đọc còn học nhiều điều từ tác phẩm của ông ngoài chuyện nghĩa khí, chung thuỷ, hi sinh vì đồng đội, sẵn sàng chết vì chính nghĩa, tiêu chuẩn của một bậc trượng phu...Người đọc cỏn được trang bị thêm nhiều kiến thức về võ học, tôn giáo, trà đạo, tửu đạo, triết học, thơ ca, tâm lý, thiên văn, y học, tướng số, phong thủy, hội hoạ, lịch sử...Đọc sách của ông người đọc như được khám phá một kho tàng khổng lồ của văn hoá Á đông và đặc biệt là văn hoá Trung Hoa. Bởi nhà văn là một kho kiến thức khổng lồ, mênh mông.
Sau khi ông qua đời, có lẽ khó tìm được một nhà văn viết kiếm hiệp nào để sánh bước ngang hàng với ông.
31.10.2018
DODUYNGOC

Xem thêm bài viết của Nhà văn Nguyễn Đông Thức về kỷ với nhà văn Kim Dung

Đến tuổi sáu mươi thì anh mới qua Pháp định cư. Hồ sơ hoàn tất từ hồi tuổi năm mươi, không hiểu sao cứ kéo dài mãi. Toà lãnh sự kêu lên năm lần bảy lượt hết hỏi này nói nọ lại bổ túc hồ sơ. Anh thấy nản, chẳng muốn đi nữa, bỏ ngang. Sau khi vợ anh mất, anh lại càng không nghĩ đến chuyện đấy nữa. Nhưng cô em gái bảo lãnh cho anh, thương ông anh ruột côi cút một mình, cứ thúc anh mãi. Anh cứ lần khân vì anh không muốn làm gánh nặng cho cô em.
Hơn nữa, anh thích sống ở Việt Nam hơn. Ở đây có bạn bè, hàng xóm, bà con. Đi đến đâu cũng có người để nói chuyện. Mà anh lại là người thích chuyện trò. Ra quán cà phê đầu ngõ mỗi ngày, anh gặp bao người, đa số là quen cả, đủ thứ chuyện để nói với nhau. Hôm nào lười nói thì ngồi nghe, nghe người khác nói cũng là một cái thú. Đi sửa cái xe, bắt chuyện với anh thợ trẻ, nghe anh kể tâm trạng nhớ quê, nhớ vợ, thương cho hoàn cảnh của anh. Gặp anh thợ già lại nghe chuyện đời, chuyện lòng người, hiểu thêm nhiều cảnh ngộ. Vợ chồng anh sống giản dị, gắn bó với mọi người nên gặp ai trong phố cũng chào hỏi, nói cười rôm rả. Cho nên khi nhận được giấy tờ định cư, rồi mua vé máy bay, anh buồn lắm, tâm trạng chẳng muốn đi. Nhưng anh cứ lấn cấn chuyện ở đây thì vui nhưng lắm chuyện để nghĩ. Anh là người siêng năng nghe đài, xem báo, đọc mạng, biết nhiều chuyện quá buồn của đất nước, nhìn thấy bế tắc không có lối ra của nền kinh tế đang có dấu hiệu sụp đổ. Hàng ngày chứng kiến những tên tham ô, nhũng nhiễu, cướp của dân nghèo, anh xót xa thấy mình bất lực. Anh rùng mình sợ hãi với cách sống tàn nhẫn nhan nhản trong xã hội, con người tàn sát lẫn nhau để tồn tại, lừa gạt nhau để sống, đầu độc nhau để thủ lợi. Những điều đó làm anh trăn trở và anh nghĩ rời đất nước để không còn phải làm một kẻ chứng nhân và cũng là nạn nhân của sự tàn mạt đó. Anh biết qua đấy sẽ buồn nhiều hơn vui, vì anh đã có thời gian đi học ở đấy, nhưng ít ra anh khỏi phải là người chứng kiến một sự đứt gãy và sụp đổ những giá trị văn hoá mà anh đã một thời tôn thờ và ngưỡng vọng. Anh không muốn nhìn thấy những nền nếp lâu đời của một dân tộc đang rã nát. Và vì thế anh đi.
Khi máy bay tăng tốc để rời phi đạo, anh khóc khi nhìn qua cửa sổ và phía dưới kia là những con đường, những nóc nhà, những địa điểm quen thuộc. Và bỗng dưng anh tự nghĩ mình quyết định thế này có đúng không?
Nước Pháp đón anh với những cơn gió lạnh mùa đông tái tê. Anh thấy mình cô dộc hơn bao giờ với mớ hành trang lỉnh kỉnh. Những ánh đèn màu lung linh trên phố, tiếng người xôn xao nhưng không có giọng nói của quê hương khiến anh bơ vơ.
Ở chung với gia đình cô em được mấy tháng, anh thấy không được thoải mái lắm, lại thêm chẳng muốn làm phiền. Anh đi thuê một căn phòng nhỏ ở khu Saint Denis, một vùng ngoại ô và giá bình dân, nhưng khá lộn xộn. Cả ngày chẳng biết làm gì, anh lang thang ra công viên, vào quán cà phê bên đường, sáng ăn cái bánh croissant, uống ly cà phê sữa, trưa ăn khúc bánh mì mong có găp một người Việt để cùng nói chuyện năm ba câu. Cũng có khi gặp, nhưng ai cũng vội, chỉ mình anh không vội nên chỉ nói hai ba câu xã giao hờ hững. Anh thèm được nói chuyện, được nghe tiếng Việt như những ngày ở quê nhà, nhưng khó quá. Có nhiều đêm trong căn phòng nhỏ, không ngủ được, anh nhồi cho mình một cối thuốc đầy, thắp một ánh nến, rót một ly rượu rồi ngồi nói một mình như kẻ điên. Sau những lần độc thoại như thế, anh lại cảm thấy mình cô đơn hơn, chán nản hơn. Đối diện phòng anh là phòng của một tay Mỹ già. Ông ta vốn là một thuỷ thủ tàu buôn, đến lúc tuổi già thì rời vùng đất đầy gió biển Marseille về Paris chứ nhất định không về Mỹ. Lão bảo cứ xuống phi trường, đặt chân lên đất Mỹ là lão buồn ói. Ở lâu, hai lão già thành bạn, lâu lâu cũng ngồi với nhau nhấm nháp ly rượu, nhai một chút xúc xích, nói với nhau bằng hai thứ ngôn ngữ lơ lớ nhưng cũng hiểu nhau. Lão già Mỹ nói tiếng Mỹ pha chút tiếng Pháp, lão già Việt nói tiếng Pháp pha chút Mỹ, lâu lâu lại chêm tiếng Việt khiến tay người Mỹ ngẩn ngơ. Mỗi lần như thế, anh lại xin lỗi và bảo tại nhớ tiếng Việt quá.
Anh tìm đến cộng đồng người Việt, tham gia nhiều sinh hoạt với họ, được dịp nghe và nói tiếng Việt. Những cuộc gặp gỡ như thế thường chỉ tổ chức vào cuối tuần hoặc dịp lễ lạc. Thời gian đầu anh thấy thú vị và sung sướng lắm. Nhưng rồi lần hồi, anh nhận ra mấy tổ chức này lung tung quá, nhiều khuynh hướng chính trị quá lại cứ cãi nhau như mổ bò, tranh dành danh hão, gặp nhau là dịp để khoe đủ thứ trên đời, nói xấu thiên hạ. Anh nản nên rút lui dần, chỉ còn mỗi tuần đi nhà thờ ở cuối phố, gặp mấy bà già Việt qua đây từ thuở nào, chào nhau, nói vài chuyện. Các bà qua lâu quá rồi nên cũng chẳng có nhớ chuyện gì để nói ngoại trừ nhắc lại mấy chuyện xa lắc lơ của thập kỷ bốn mươi của thế kỷ trước ở vùng quê chiêm trũng Bắc bộ.
Và rồi anh phát hiện có bà cụ nuôi một con nhồng biết nói tiếng Việt. Cũng tình cờ thôi, hôm đó lễ xong trên đường về thì anh cùng đường với bà cụ. Bà cụ khoe anh là vừa được cậu cháu vừa đi Việt Nam về biếu cho con nhồng nói được. Cụ bảo gian truân, ma mãnh lắm mới đem được con chim qua đây. Thế là anh ghé nhà bà xem thử, con nhồng nói được thật, nhưng chỉ nói được "Trời ơi" và nhiều tiếng ậm ừ trong họng. Nhưng thế cũng là tốt rồi. Anh chợt nghĩ, giá mà anh có con chim thế này nuôi trong phòng, anh sẽ dạy nó nói thêm nhiều tiếng nữa, suốt ngày chim và người nói qua lại với nhau, cũng là điều quá thú vị. Từ đó, anh siêng đến thăm bà, để nghe bà ngọng nghịu nói vài tiếng Việt và chủ yếu là nghe con nhồng hét lên "Trời ơi". Bà cụ già, lười biếng nên chuồng chim lúc nào cũng đầy phân chua loét, lần nào ghé anh cũng dọn sạch lồng cho chim nẻn lần hồi chim cũng quen anh, mỗi lần thấy bóng anh là nó ngước mỏ lên mà la "Trời ơi". Bỗng một hôm bà cụ bảo anh: Anh ạ! Tôi thấy anh quý chim, tôi cũng thích nó nhưng không khoẻ để chăm sóc nó cho tốt. Hay là tôi xin tặng anh, anh đem về chăm sóc nó tốt hơn tôi. Nghe thế anh mừng húm, anh bảo gởi cho cụ ít tiền, cứ xem như anh mua lại con chim của bà cụ.
Từ đó, anh có con nhồng làm bạn. Anh đặt cái lồng giữa phòng, chùi rửa mỗi ngày, thức ăn, tắm rửa đầy đủ nên chim càng ngày càng phổng phao, bộ lông đen nhánh như nhung, cái mỏ với đôi tai lủng lẳng vàng choé như múi mít chín. Và cũng nhờ khoẻ nên chim siêng nói, nhưng chưa học thêm từ nào mới, vẫn cứ vểnh mỏ mà la "Trời ơi". Anh cũng trời ơi với nó, nói qua nói lại suốt ngày. Anh muốn dạy nó nói "Mẹ ơi", " Ba ơi", "Việt Nam ơi". Nhưng nó vẫn ầm ào trong miệng, phát âm chẳng rõ ràng. Anh bớt đi lang thang. Sáng pha cà phê, cắt cho chim miếng chuối, cho miếng croissant, chim kêu "Trời ơi". Anh hớn hở cười, nói lại "Trời ơi". Suốt ngày không biết chán. Chim và người cứ đối thoại với nhau như thế và anh thấm hơn cái nghĩa của chữ trời ơi của người Việt. Anh định viết một bài nghiên cứu về "Trời ơi" trong phong tục và ngôn ngữ của dân Việt, anh nghĩ chắc cũng lắm cái hay. Anh sẽ phân tích cái chữ trời ơi trong mọi hoàn cảnh mà người Việt thường dùng khi sung sướng cũng như lúc đau khổ, lúc ngạc nhiên cũng như lúc bế tắc của số phận. Anh khám phá ra triết lý của chữ trời ơi nó phong phú quá, nó sâu xa quá.
Mấy người bạn cũ của anh nay đang định cư ở Mỹ rủ anh qua Mỹ chơi nhân dịp họp mặt truyền thống trường học xưa thời trung học. Chuyến đi dự định một tháng. Anh chỉ một mình, đi đâu cũng được, ở đáu cũng thế nên chuyện đi đối với anh, anh chẳng có gì phải băn khoăn. Chỉ cần mua vé, xách vali lên là đi thôi. Nhưng anh ngại không ai chăm sóc con nhồng, cũng chẳng biết gởi ở đâu trong những ngày anh vắng mặt. Thời may, khi biết nỗi âu lo của anh, anh bạn Mỹ già mở lời sẽ chăm sóc chim chu đáo như lời anh dặn dò và khẳng định sẽ chẳng có chuyện gì có thể xảy đến cho chim.
Tin tưởng lời hứa của bạn già, anh đi Mỹ một tháng mà lòng cũng lo âu, vài hôm điện về Pháp hỏi thăm, biết chim vẫn khoẻ là an tâm rồi.
Lão bạn già người Mỹ đón anh ở phi trường lúc anh về lại Pháp. Câu hỏi đầu tiên của anh là chim sao rồi, khoẻ chứ. Lão Mỹ nhìn anh tủm tỉm cười: Khoẻ và hay hơn trước nhiều. Trong mắt lão ánh lên một tia nhìn tinh quái đầy vẻ bí mật. Anh hỏi lão chỉ cười: Về biết liền. Mở cửa phòng, thả cái vali, anh kêu: "Trời ơi" như lời chào. Con chim ngóng mỏ chào lại:"Oh my God". Cái gì thế này? Anh lập lại:"Trời ơi". Chim cũng trả lời:"Oh my God". Anh lập lại nhiều lần, chim vẫn trả lời :"Oh my God". Anh quay nhìn lão Mỹ, lão cười ha hả với giọng đắc thắng: "Mày thấy tao giỏi không? Chỉ một tháng, tao đã dạy nó nói được tiếng Mỹ, chưa đâu, nó còn biết chào Hello nữa kia, rồi mày sẽ nghe". Anh điên tiết nhìn hắn với cặp mắt toé lửa: "Tao chỉ muốn nó nói tiếng Việt, mày hiểu chưa, tao không muốn nó nói tiếng Mỹ". Lão Mỹ cười khùng khục: "Tiếng nào cũng thế thôi, mày phải cám ơn tao vì đã dạy được nó nói". Anh quắc mắt la lẻn: "Cám ơn cái con cặc, đụ má mày, mày làm hư con chim của tao rồi. Cút mẹ mày đi". Lão Mỹ nhìn anh ngạc nhiên, đôi mắt xanh mở to như mắt khỉ, ra dấu chẳng hiểu gì. Mà làm sao nó hiểu, làm sao giải thích cho nó biết anh chỉ cần chim nói tiếng của dân tộc anh, của quê hương xa tít của anh, để anh cảm thấy gần gũi với quê nhà. Anh chỉ cần nghe tiếng trời ơi, chỉ cần thế thôi. Lão thuỷ thủ già không hiểu điều đó, lão không có ý niệm quê hương, lão buồn ói khi nói về đất nước của lão, không có chút đồng cảm trong chuyện này thì làm sao để gỉải thích.
Anh đứng giữa phòng la to:"Trời ơi". Nhồng trả lời:" Oh my God". Cuộc đối thoại nhàm chán suốt như thế cho đến khi anh khản cả cổ. Chim đã quên tiếng Việt. Suốt cả tuần, trừ lúc ngủ, lúc ăn, anh cứ đứng với lồng chim mà kêu:"Trời ơi". Và chim mãi trả lời : "Oh! My God". Không biết tay Mỹ già dạy sao hay thế. Lần hồi, anh khám phá ra lão già cho chim ăn Hamburger. Anh chỉ cho nó ăn bánh Croissant. Lão cho Hamburger có thịt, chim khoái nghe lời lão. Anh lại biết thêm lão cho chim uống rượu Whisky, trong khi anh chỉ cho chim uống nước lã. Hèn gì, anh châm nước cho nó, nó chấm mỏ vào rồi vung vẩy, lấy mỏ kẹp nghiêng hủ nước cho đổ lênh láng. Hoá ra nó đòi Whisky. Lão này mất dạy thật. Con chim đã hư rồi. Bây giờ nó chào Hello khi muốn ăn, nó kêu Whisky khi muốn uống, lúc anh hét trời ơi, nó trả lời Oh! My God! Việc đó làm anh phát điên. Anh bỏ mấy tuần để dạy lại tiếng trời ơi cho nó, nhưng nó làm như đã quên rồi. Nó chỉ Oh! My God. Nhiều lần, tức quá anh đập mạnh trên nóc lồng rầm ràm, nó bay loạn xạ, dáng điệu ngạc nhiên, sợ hãi nhưng vẫn kêu : Oh! My God! Tức không chứ. Giờ thì nó chỉ ăn Hamburger, uống rượu và nói tiếng Mỹ.
Chịu hết nỗi, anh túm lấy chân nó, mở cửa sổ, tung nó ra ngoài trời. Anh nói: "Bay đi, tao không cần mày nữa". Nó chao một vòng. Paris đang mùa thu, lá vàng trên cây, lá đỏ dưới đất. Con chim màu đen lượn mấy vòng trong sắc thu rồi trở lại đậu trên bậu cửa sổ. Anh bảo: Trời ơi. Nó: Oh! My God. Nhiều lần như thế, bực mình anh xua nó bay đi, đóng cửa sổ lại, ngồi vào ghế nhồi cối thuốc. Nó quay lại, lại đậu trên bậu cửa, mỏ gõ cành cạch vào cửa kính. Nó kêu Hello, Hello!
Anh hét: Trời ơi! 
Nó trả lời: Oh! My God!
Anh ném mạnh tẩu thuốc đang hút vào cửa, chim hoảng hồn bay đi, vừa bay vừa kêu: Oh! My God!
Không biết nó kiếm ăn ở đâu, đêm có lẽ nó ngủ trên cành cây phía bên kia đường. Nhưng suốt cả tháng, sáng nào nó cũng đậu nơi cửa sổ phòng anh, dùng cái mỏ vàng gõ cành cạch vào cửa kiếng mà Hello với Oh! My God!
Thế rồi một hôm nó mất hút, mấy ngày không thấy bóng dáng nó. Anh mở cửa sổ, ngước lên cây gọi liên tục: Trời ơi! Trời ơi! Trời ơi! Trời ơi!. Chẳng có tiếng vọng nào. Anh vẫn gọi, lớn hơn: Trời ơi! Trời ơi! Trời ơi! Trời ơi! Những người đi đường nhìn lên, cứ nghĩ có một lão già cháu Á đang bị điên, có lẽ vì lão nhớ quê hương.
Con chim Trời ơi của anh đã vỗ cánh bay mất, suốt cả buổi anh cứ gọi mãi trời ơi, hi vọng nó sẽ bay về. Nhưng nó đã mất biệt. Giọng anh lạc đi với hai hàng nước mắt. Nó đã nói tiếng Mỹ rồi. Nó đã quên tiếng Việt rồi. Thôi! Anh cũng đành quên nó đi.
26.10.2018
DODUYNGOC

Tui viết bài con cá chuồn và con cá nục của xứ Quảng Nam như một hồi ức về một vùng đất của tuổi trẻ nơi tui đã lớn lên. Như nhắc nhở một ký ức, một quãng đời đã đi qua. Tui viết để nhớ đến Mạ tui và những món ăn Mạ nấu. Không ngờ, anh Phú, bạn đồng môn của tui thuở xa xưa ở Đại học Vạn Hạnh, bây giờ là chủ của hai quán ăn bán toàn món ăn xứ Quảng mang tên Phú Chiêm lại có nhã ý mở một buổi tiệc với những món của quê hương như tui đã viết. Còn gì vui bằng, sao mà không nhận lời được. Hẹn nhau chiều thứ hai, buổi chiều mưa tầm tã gợi nhớ những cơn mưa dầm xứ Quảng, mưa cũng đội mưa đi dự, làm sao có thể bỏ được bữa tiệc đặc biệt này. Cũng may đến gần giờ hẹn, tạnh mưa. Tiệc tổ chức ở nhà hàng Phú Chiêm đường Trần Bình Trọng, Bình Thạnh. Toàn những món xứ Quảng lâu ngày gặp lại, khách cũng rặt dân Quảng Nam, chỉ riêng nhà văn Nguyễn Đông Thức là dân sinh ra ở Sài Gòn, nhưng quê cha cũng là dân xứ Quảng, nên cũng xem như là người Quảng Nam. Như thế là bữa ăn món Quảng của những người con xứ Quảng ở Sài Gòn. Cũng là một bữa tiệc đặc biệt và hiếm hoi.
Mở đầu là cá chuồn chiên. Những con cá chuồn được nhét ghệ, nén, bẻ gập chiên dòn. Lâu lắm rồi mới ăn lại món này. Cắn miếng cá, mùi thơm của kỷ niệm ùa về gợi biết bao niềm nhớ. Miếng cá chắc trộn với ghệ, với củ nén tạo một hương vị rất đặc biệt, một hương vị của vùng đất Quảng Nam. Nhai miếng cá thơm thơm, bùi bùi beo béo, hình dung con cá chuồn bay giữa biển khơi từng đàn như những cánh chuồn chuồn. Và bây giờ, cánh chuồn chuồn nằm khoanh tròn trên dĩa, chờ người bỏ vào miệng để người nhớ lắm một vùng đất. Cắn thêm trái ớt xanh, trái ớt xứ Quảng dòn nghe tiếng rốp rộn rã. Miếng cá thêm mùi cay, góp tăng thêm sự toàn vẹn của miếng ăn. Nuốt đến đâu nghe sướng tới đó. Rồi mực sữa chiên, những con mực nhỏ xíu vừa trọn miệng, nghe chất ngọt của biển khơi tràn trên đầu lưỡi, cái ngọt ngào thi vị đi kèm với mấy lá rau răm. Dai dai, beo béo, nồng nàn tràn ngập khoang miệng. Nhấm một chút rượu đưa cay. Ngon! Rồi hến xúc bánh tráng, cái vị bùi bùi như còn đọng chất bãi bồi trộn với cái dòn tan của bánh tráng, hai thứ cộng hưởng để tạo một cảm giác khó quên. Con hến nhỏ xíu rời đất cát nhưng vẫn mang trong thịt nó cái ngọt ngào bùi béo của gió cát. Câu chuyện râm ran của những người phiêu bạt rời quê, nhắc những món ăn thời bé dại. Lấy cái khôn của những kẻ đã từng trải, cái chất của kẻ giang hồ đã đi bốn bể năm châu để lý giải các món ăn của quê mình. Để tiếc những món ăn đã bị lai tạp, để biết tại sao ăn mì Quảng, nấu mì Quảng phải như thế này, khử dầu phụng phải như thế kia. Sao phải dùng hạt nén, sao gọi là cá Cu, sao gọi là cá Chim. Nhắc đến tô canh mít non nấu với cá chuồn, gợi lại món ăn cầu kỳ mít hong. Anh chàng Nguyễn Khắc Nhượng mô tả món ăn này và cho là món ăn ngon nhất của xứ Quảng mà chẳng mấy người được thử. Rồi anh đọc thơ Bùi Giáng, ông thi sĩ Quảng Nam này thì ai cũng biết, nhưng để hiểu thơ ông cũng chẳng mấy người. Anh đọc bài Về buôn bán của Bùi Giang và anh cho là bài thơ tuyệt hay:
VỀ BUÔN BÁN
Giã từ cõi mộng điêu linh
Tôi về buôn bán với mình phôi pha
Mình ơi! tôi gọi bằng nhà
Nhà ơi! tôi gọi mình là nhà tôi
Bây giờ xuôi ngược đôi nơi
Thôi mình ở lại tôi dời chân đi
Thưa rằng: - ở cái quái gì
Chàng đi thiếp cũng xin đi với chàng
Trong bàn tiệc cũng có anh chàng làm thơ Chu Nguyên Thảo, người đã in tập thơ hơn 300 trang để nịnh vợ với nhan đề Vợ tôi hiền giữ nhà cho tôi đi chơi. Nhưng theo Nguyễn Khắc Nhượng, chẳng có nhà thơ nào viết về vợ hay như ông Bùi Giáng. Ăn món Quảng với những người Quảng mà lại đọc thơ của nhà thơ nổi tiếng xứ Quảng thì còn chi hơn nữa, nhất là lúc ngoài trời còn sụt sịt mưa dầm.
Tui nhắc ông bạn Phú chủ tiệm con cá nục, anh sai lính đem ra một dĩa cá nục hấp. Ôi! Lâu rồi mới gặp lại chúng mày. Cá nục phải vừa nho nhỏ, cá nục lớn giống cá bạc má, không ngon. Nhúng một cái bánh tráng, bỏ thêm chút rau muống chẻ, vài cọng rau thơm. Bắt con cá bỏ vào, quấn lại. Chấm nước mắm ớt tỏi hay mắm nêm hoặc nước kho cá đều được. Bỏ nào miệng, cắn một miếng, cắn thêm miếng ớt xanh. Ôi chao là ngon. Chất cá ngọt, rau muống chan chát, dòn dòn, rau thơm nồng nàn, ớt cay, nước chấm mằn mặn. Tất cả trộn lẫn vào nhau thành một hỗn hợp dày dặn của miếng ngon khó lẫn. Cá nục nhỏ ăn luôn đầu, luôn xương, nhai càng nát, miếng ăn càng ngon. Ăn để nhớ quê, ăn để nhớ quá khứ, ăn để nhớ tuổi thơ đã qua rồi nên miếng ăn trong miệng chứa không chỉ còn là miếng ăn mà còn cả một quãng trời, một hồn vía, một quê nhà xa tít.
Và cuối cùng là con cá Trảnh. Loại cá này bên Tàu gọi là cá Lý ngư, cũng là một giống cá quý. Con cá này trong truyện Nhị thập tứ hiếu có nhắc đến. Loại cá này cùng loại với cá Chép, cá Mè nên lắm xương. Thịt thơm, ngọt nhưng cũng vì nhiều xương nhỏ quá nên miếng cá ăn giảm ngon khi mắc phải những xương nhỏ găm vào miệng. Hôm nay con cá trảnh được ông chủ kho với cải chua, lại gợi nhớ cũng món ăn độc đáo của Quảng Nam là cá Hố kho dưa cải. Ô là la! Lâu quá rồi không được ăn món bình dân mà ngon miệng này. Con cá hố dẹp lép, chẳng được bao nhiêu thịt nhưng kho với dưa cải chua thành món mặn miệng vô cùng. Trời mưa mưa se se, sới một tô cơm nóng, gắp miếng cá hố kho, kèm miếng dưa chua thấm đẫm nước cá, chan mấy muỗng nước kho, và vô miệng cả cơm, cả cá, cả nước kho sâm sấp, cay cay vij ớt bột, trời ơi là trời, ngon quá là ngon, ăn no rồi mà miệng còn thèm.
Ông chủ Phú muốn mời thêm tô mì Quảng, nhưng ai cũng đầu hàng vì đã no quá. Hẹn ông dịp khác vậy. Trời còn lắc rắc mấy hột mưa như hột mưa rơi trong thơ Bùi Giáng, chia tay nhau. Cám ơn bạn Phú đã làm nên buổi gặp mặt kỳ thú. Cám ơn những món ngon của xứ Quảng.
Các bạn của tui, ai muốn thưởng thức những món ngon tui đã kể, ai muốn đổi khẩu vị để nếm thử những món ăn độc đáo của một vùng miền, hãy một lần đến Quán Phú Chiêm. Bạn sẽ được một lần khám phá. Tui không bảo đảm những món ăn thật ngon vửa lòng tất cả mọi người vì mỗi người mỗi khẩu vị khác nhau, nhưng tui tin các bạn sẽ được thưởng thức những món ăn lạ miệng mà chắc hẳn lần đầu các bạn được nếm qua.
Hãy ghé Quán Phú Chiêm 52 Trần Bình Trọng, P.5, Q. Bình Thạnh hoặc Quán Phú Hương, 21 Sao Mai. Q. Tân Bình, bạn sẽ có dịp khám phá và thưởng thức những món ăn xứ Quảng.
22.10.2018
DODUYNGOC

Tui có mấy người quen làm việc bên văn phòng các Ban, Đảng trung ương, cũng như ông bạn thân của tui là nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhà báo GTSơn nhiều lần giới thiệu món cá He kho rục ở nhà khách T78 mà cứ hụt hoài, chưa thưởng thức được. Thời may, vừa rồi có anh bạn ở miền Tây cho tui ăn món cá này, cũng thoả lòng mong đợi. Tui đã ăn rất nhiều lần món cá chép kho riềng rục cả xương của người miền Bắc. Món này trong Sài Gòn tui mua ở nhà hàng Tuấn Tú. Cá chép kho với thịt heo ba chỉ cùng với củ riềng, kho trên bếp một ngày, tất cả mềm cho đến tận xương, ăn không bỏ thứ gì. Con cá He kho rục ở miền Nam cũng thế. Cá chép, cá He là loại cá lắm xương, dân gian nghĩ ra cái món kho rục này thật là hay, xương mềm nhai luôn với thịt của cá, ngon vô cùng. Nếu như món cá chép kho riềng mang phù sa của bãi bồi sông Hồng trong thớ cá, trong hương vị, trong sắc màu thì món cá He của miền Nam lại mang mùi vị của dòng sông Cửu Long trong nồi cá. Hai nồi cá của hai miền tiêu biểu cho hai vùng đất, ăn miếng cá của vùng nào cũng thấm đẫm mùi vị của quê hương.
Nếu miền Trung có con cá chuồn độc đáo thì miền Nam có con cá He cũng không kém phần. Người ta không tìm thấy giống cá này ở Trung hay Bắc, nó chỉ xuất hiện ở Nam bộ. Theo khoa học người ta chia hai nhóm chính.
Cá he đỏ hay cá kim sơn (danh pháp khoa học: Barbonymus schwanenfeldii) là một loài cá thuộc họ Cá chép.
Loài cá này có nguồn gốc từ lưu vực các sông Mê Kông và sông Chao Phraya của Thái Lan, Sumatra, Borneo, và bán đảo Mã Lai, nơi nó được tìm thấy ở các sông, suối, kênh, mương. Nó cũng bơi vào các cánh đồng bị ngập lụt. Môi trường sống tự nhiên của nó là trong nước với độ pH 6,5-7,0, độ cứng nước của lên đến 10 dGH, và phạm vi nhiệt độ 72-77 °F (22-25 °C). Tại Indonesia, một phạm vi nhiệt độ là 20,4 °C đến 33,7 °C được ghi nhận của loài này. Cá he đỏ phần lớn ăn cỏ, tiêu thụ loài macrophyte và thực vật đất ngập nước, cũng như tảo sợi và đôi khi ăn côn trùng. Nó cũng ăn cá nhỏ, sâu, và động vật giáp xác.
Một loại nữa là Cá Hè chấm đỏ (Danh pháp khoa học: Lethrinus lentjan) là một loài cá biển trong họ cá gáy Lethrinidae, Phân bố ở vùng biển Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, Ôxtraylia, Indonesia, Phillippin, Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam. Đây là loài cá có giá trị kinh tế cao. Mùa vụ khai thác chúng là quanh năm, chúng có thể được ăn tươi, đông lạnh.
Ở Việt Nam, chúng có tên địa phương là cá hè, cá gáy.
Đặc điểm hình thái để nhận dạng loài cá này là chúng có thân dài, dẹp bên, chiều cao thân lớn hơn chiều dài đầu. Kích cỡ khai thác từ 250 – 350 mm. Phần đầu phía trước mắt hơi cong hoặc rất cong. Miệng rộng, đạt đến đường thẳng đựng kẻ qua mũi. Răng phía trong hàm phát triển. Chúng không có răng trên lưỡi và trên xương lá mía. Màu cơ bản của chúng là màu hồng thiên về sẫm màu hơn ở phần đuôi.
Vây lưng liên tục, giữa phần tia cứng và phần tia mềm hơi lõm xuống. Gai cứng thứ 2 dài hơn tia gai cứng thứ nhất. Phía trong gốc vây ngực phủ vảy. Phần lưng từ giữa gốc phần tia cứng vây lưng đến đường bên có 6-7 hàng vảy. Lưng màu xanh ô-liu, bụng màu trắng nhạt hoặc xanh nhạt. Phần sau xương nắp mang và gốcvây ngực có chấm màu đỏ tươi. Phần lưng, mỗi vảy có 1 chấm trắng nhỏ, nằm ở giữa vảy. Vây lưng và vây hậu môn có vằn hoặc dải màu da cam.(Wikipedia)
Cá he thuộc họ cá mè, có rất nhiều xương, nhưng bù lại thịt cá rất thơm, bùi, béo. Cá he có thể chế biến nhiều món ngon như: chiên tươi, muối chiên, nấu canh chua, kho lạt... Tuy cá có nhiều xương nhưng để khi ăn không bị hóc xương, lúc làm cá bỏ ruột xong, ta dùng dao bén khứa ngang mình cá sao cho đứt các xương nhỏ trên lưng nhưng vẫn giữ được xương sống cá. Làm thế, lúc ăn ta sẽ tránh được xương. Tuy cá He nhiều xương, nhưng bù lại thịt cá cực kỳ béo, mềm. Không giống như một số loài cá nước ngọt khác, cá he (kể cả cá mè vinh) chỉ mổ bụng bỏ ruột, làm sạch mang, cắt vây và đuôi là xong. Rất nhanh gọn. Tuyệt đối không nên đánh vảy cá bỏ đi, bởi vảy cá he mềm, giòn, ăn rất là lạ miệng. Thêm nữa, việc đánh vảy cá này có nên lỡ tay làm dập mật, khiến thịt cá đăng đắng nên người nhà quê cứ để vảy mà ăn.
Cá He làm được nhiều món nhưng thông dụng nhất vẫn là món cá He kho lạt và cá He ho rục.
Với món cá He kho lạt, sau khi làm sạch cá, đem cá ướp với chút đường, tiêu, bột ngọt, nước màu, nước mắm, củ hành bằm nhuyễn, ớt… để thấm khoảng 15 phút. Bắc nồi cá lên bếp, kho cho thịt cá săn lại và tiếp tục đổ nước dừa tươi vào sao cho ngập mình cá. Sau đó vặn lửa lớn cho nước sôi lên, nêm nếm lại vừa ăn rồi hạ lửa, kho cá trên lửa riu riu cho đến khi thịt cá chín mềm, nước còn xâm xấp mặt cá thì tắt bếp. Cuối cùng, nêm thêm hành và tiêu nữa là đã có món cá he kho lạt.
Cá he kho lạt ăn kèm với rau sống, thêm mấy trái dưa leo chấm cùng nước cá kho có vắt thêm miếng chanh. Món kho lạt đặc biệt ở chỗ đó, không có chất chua của chanh là mất đi một phần giá trị của món ăn. Do cá này nhiều xương nên phải khéo léo trong cách gắp và biết cách ăn mới tận hưởng trọn vẹn vị ngon. Dùng muỗng hoặc đũa lùa thịt cá theo chiều ngang, thịt sẽ trôi theo tưng thớ, còn trơ bộ xương cá ra. Ghém cho gọn mớ rau sống, chấm vào tô cá He rồi cho vào miệng. Cảm giác chua chua, mặn mặn, cay cay, beo béo khi gắp thêm miếng cá trộn lẫn vào, thật là khó để tả ngon đến độ nào. Người sành ăn, người ta thường chọn bụng và đầu cá. Nhưng khi ăn đầu cá thì nhớ bỏ hai viên mắt cá ra. Bụng cá nhiều mỡ béo ngậy, cắn miếng cá mỡ trào đầy khoang miệng, mùi thơm của mỡ cá, đặc biệt là con cá He không giống mỡ của các loại động vật khác, nó béo mà thanh, nghe tan chảy trong mồm, sướng khoái. Đầu cá He nhiều sụn, nhai đầu cá He thấm vị ngọt của xương cá, rau ráu, bùi bùi, beo béo, dòn dòn, thú vị lắm, đã cái miệng làm sao.
Có điều lưu ý là cá He hơi nhiều mùi tanh. Tuy vậy, chỉ cần vơ vài nắm lá chuối tươi sau hè, xé nhỏ cỡ nửa lóng tay, chà xát lên mình cá nhiều bận, là khử luôn mùi tanh của cá. Ở thành phố, không kiếm ra lá chuối thì dùng hai trái ớt hiểm chín đỏ, trở sống dao dần giập, rồi bằm nhuyễn. Rắc thêm hai muỗng canh muối trắng cho nửa ký cá. Rưới nước ấm vừa ướt mình cá khi đã làm xong cá, chà xát ớt và muối đều khắp. Xả lại nước sạch. Vắt nước cốt một trái chanh thoa đều mình cá, chất tanh sẽ bay mất hết.
Lại nói đến cá He kho rục. Người Việt ta hay lắm, cứ loại cá nào lắm xương thì trị bằng kho rục, thứ gì cũng nềm chứ không gì ba cái xương cá. Ngày xưa chụm củi đốt than kho riu riu cả ngày, báy giờ có nồi áp suất, vài ba giờ là rục xương.
Cá làm sạch, xếp lớp trong nồi sau khi ướp đầy đủ gia vị nước mắm, tỏi, tiêu, hành lá. Nếu thêm tí riềng, nghệ càng ngon. Cũng như gởi vào đôi ba miếng thịt heo cũng tốt. Kho lửa liu riu cho đến khi xương cha, xương mẹ, xương con mềm nhũn đi, mỡ cá ra dầy nồi, mở nắp lên, mùi thơm của cá ngào ngạt. Chỉ cần thêm quả dưa leo hay quả cà chua là có một món ăn thơm nức mũi, ngon quên đất trời. Ăn món cá này khỏi cẩn uống Omega 3 hê...hê. Món này ăn với cơm nóng thì thôi rồi. Ăn hoài không biết chán.
Cái món cá He kho rục này cũng có thể ăn theo kiểu Tây với bánh mì. Hành tây xắt lát, vài ba lát ớt đỏ, một chút hành ngâm giấm, thêm chút ngò rí. Xẻ ổ bánh mì, dồn vào mấy miếng cá nữa, ngon còn hơn cá hộp Sumaco của anh Ma rốc.
Đất nước ta đi đến đâu cũng có món ngon. Sông nước, biển cả cung cấp cho dân ta biết bao thực phẩm. Từ con cá, con tôm, dân Việt sáng tạo ra không biết bao nhiêu món ăn độc đáo và thú vị. Nhưng rồi, giờ thì biển đã bị đầu độc, sông suối cạn khô, con cá con cua càng ngày càng hiếm. Miếng ăn bỏ vào miệng nhiều lúc phân vân vì sợ chất độc hại người. Sông Cửu Long càng ngày càng nghèo phù sa, anh bạn vàng chẹn ngay đầu nguồn mang lại bao thiệt hại. Con tôm không còn chắc như xưa, con cá không còn béo như thuở trước. Cứ nghĩ một mai dòng sông Cửu Long không còn tôm cá, mảnh đất phù sa chỉ là mảnh đất chết mà lòng bỗng ngậm ngùi. Trái đât nóng dần lên, con người tận diệt và tàn phá thiên nhiên, và lúc đấy, những món ăn quen thuộc thành những thứ khó tìm. Buồn nhỉ!
20.10.2018
DODUYNGOC

Hê..hê xứ An Nam ngày nay có nhiều điều cấm buồn cười quá đi. Từ 15.11, Bộ Văn hóa cấm diễn viên hút thuốc trong các cảnh diễn trên sân khấu và điện ảnh. Trên thế giới có đất nước nào có quy định vậy không bà con? Lại còn nếu sử dụng thuốc lá nhằm mục đích nghệ thuật, diễn viên không thực hiện hành vi hút thuốc thật trên sân khấu. He..he thế là thế nào? "Không hút thuốc thật" nghĩa là xài thuốc giả, giả dụ như ngậm một đạo cụ gì đó như điếu thuốc, hay là ngậm thuốc thật mà giả như hút. Trời ơi là trời, đến chuyện diễn xuất mà cũng giả, cũng láo nữa thì xin lạy các bố hàng trăm lạy. Các bố đúng là rảnh háng, không biết làm gì thì ngồi gãi cho đã ngứa, bày chi mấy quy định trời ơi để thiên hạ thấy mình ngu quá cỡ. Thôi thì dẹp mẹ nghệ thuật với diễn xuất cho rồi, làm láo, diễn giả thì diễn chi cho mất công khiến khán giả cười cho thúi não. Tui sợ các ông quá rồi đấy. Rồi đây sẽ cấm uống rượu bia trên sân khấu và phim. Tới nữa sẽ cấm ăn trên sân khấu và phim. Rồi sẽ cấm ôm, cấm hôn, cấm cầm tay và cấm đi vào cầu tiêu, cấm cảnh đi đái trong phim, rồi sẽ triệt luôn nghệ thuật.
Nói thật là mới đọc cứ tưởng chuyện tiếu lám, giỡn cho vui, ai dè là thiệt.
Ngoài phố, quán ăn, nơi công cộng còn người hút thuốc đầy ra đấy kìa, cấm chưa nổi lại đi bày đặt cấm tào lao. Buồn cho cái não trạng của các ông quá.

Hôm trước gặp và cùng đi ăn trưa với người bạn mới quen. Anh định cư ở Mỹ mấy chục năm rồi. Thích đọc face của tui, về Sài Gòn tìm gặp. Trong lúc nói chuyện anh kể chuyến vượt biên của anh cách đây ba mươi mấy năm, nhờ những con cá chuồn mà cả tàu anh sống sót đến bến bờ tự do. Chợt nhớ mấy con cá chuồn chi lạ.
Những con cá chuồn xanh ngời ngời với đôi cánh như những con chuồn chuồn khổng lồ, có phải vì thế mà dân gian dặt tên cho nó là cá chuồn chăng? Nghe nhiều người đi biển kể, có nhiều chuyến ra khơi, cá chuồn bay theo tàu, rợp trời rớt xuống đầy khoang, tàu phải bỏ lại xuống biển và chạy đi vì sợ tàu chìm. Tui lại hình dung ra một cảnh đẹp vô cùng, ngoạn mục vô cùng diễn ra trên đại dương. Từng đoàn cá bay lên, cánh giương ra, vút lên, như một đám chuồn chuồn bay trên sóng vỗ. Tuyệt diệu! Thiên nhiên có những cảnh lãng mạn nhưng chẳng thiếu tính hùng tráng.
Tui vẫn có thắc mắc ở miền Nam sao không thấy cá chuồn, không lẽ biển phía Nam không có loại cá này. Chỉ thấy chúng ở ven biển miền Trung. Theo khoa học thì cá chuồn có nhiều loại cùng họ: Họ Cá chuồn (danh pháp hai phần: Exocoetidae) là một họ cá biển thuộc Bộ Cá nhói. Có khoảng 64 loài được phân nhóm trong 7-9 chi. Bộ Cá nhói, bộ Cá nhoái, bộ Cá nhái hay bộ Cá kìm (danh pháp khoa học: Beloniformes) là một bộ chứa 6 họ cá vây tia với khoảng 275 loài cá trong 34 chi, sống trong môi trường nước ngọt và nước mặn, bao gồm:
Adrianichthyidae (cá sóc, tên gọi này chia sẻ chung với nhiều loài trong bộ Cyprinidontiformes): 2 chi, 34 loài.
Họ Cá nhói (Belonidae): 10 chi, 47 loài.
Họ Cá chuồn (Exocoetidae): 7 chi, 68 loài.
Họ Cá kìm (Hemiramphidae): 8 chi, 63 loài.
Họ Cá thu đao (Scomberesocidae): 2 chi, 5 loài.
Họ Cá lìm kìm (Zenarchopteridae): 5 chi, 58 loài.(Wikipedia)
Họ cá chuồn sinh sống trong tất cả các đại dương, đặc biệt là trong vùng nước ấm nhiệt đới và cận nhiệt đới. Đặc điểm nổi bật nhất của chúng là vây ngực lớn bất thường cho phép cá ẩn và thoát khỏi các kẻ săn mồi bằng cách nhảy ra khỏi mặt nước và bay qua không khí một vài mét trên bề mặt của nước. Chiều dài đường bay của chúng thường khoảng 50 mét. Để lướt lên khỏi mặt nước, cá chuồn di chuyển cái đuôi của nó lên đến 70 lần mỗi giây. Sau đó nó giăng vây ngực của nó và nghiêng nhẹ lên trên để cất lên.Vào đoạn cuối của cú lượn, nó gấp vây ngực để hạ cánh xuống biển, hoặc nhúng đuôi xuống nước để đẩy mạnh xuống mặt nước để thực hiện thêm một cú bay liệng nữa, có thể thay đổi hướng bay. Hình dạng cong của "cánh" sánh với hình dạng khí động học của cánh chim. Nó có thể tăng thời gian của nó trong không khí bằng cách bay thẳng vào hoặc ở một góc với hướng dương lên được tạo ra bởi sự kết hợp của các dòng không khí và dòng đại dương.
Vào tiết tháng 3 âm lịch, người đi biển thường được xem trò biểu diễn ngoạn mục. Ngoài khơi vịnh Xuân Đài, từng đàn cá chuồn tung tăng bơi lội đi ăn, bỗng rửng mỡ bay vút lên không trung như những mũi tên phóng xa, để rồi sau đó rớt lại biển cả.
Cá chuồn lớn, 2 con 1 ký, có khi 1 con/ký. Cá có 2 vây dài và nhọn hai bên lườn như 2 mái chèo, 2 mũi tên. Người ta bảo cá chuồn là cá duy nhất biết bay. Cá có sọc dưa, thịt trắng thơm và ngọt. Trứng cá chuồn thành bọc như một đoạn ruột non của gà, ăn vừa béo vừa bùi như trứng sam. Ngư dân dùng lưới đánh bắt cá theo luồng và mùa. Người ta nghĩ cá chuồn phát triển khả năng bay đặc biệt này là để trốn thoát kẻ thù mà chúng có rất nhiều. Những kẻ theo đuổi cá chuồn gồm cá thu, cá ngừ, cá kiếm, cá cờ và những con cá lớn khác. Về phần chúng, cá chuồn cũng ăn nhiều loại thức ăn, kể cả động vật phù du.
Cá chuồn bị thu hút bỡi ánh sáng, giống như một số sinh vật biển khác, và ngư dân đã lợi dụng hiệu quả đặc tính này. Những chiếc thuyền, chứa đủ nước để cá sống nhưng không đủ cho chúng thoát ra, được gắn đèn nhử cá vào ban đêm, có thể bắt được hàng tá cá chuồn. Mùa đẻ trứng vào tháng 3 – 4, kéo đàn vào gần bờ tìm bãi đẻ. Thịt trắng, ngon, trứng có vị hấp dẫn. Biển Việt Nam có nhiều loài cá chuồn (cá chuồn mít, cá chuồn gành), tập trung nhất ở biển Miền Trung, từ Đà Nẵng vào Bình Thuận.
Cá chuồn là món ăn bình dân, hồi bé ở Đà Nẵng, giá rất rẻ nên ai cũng ăn được, nhà nào cũng mua được. Lại thêm, cá chuồn là loại cá làm được nhiều món ăn. Nhớ ngày xưa, thường được Mạ tui nấu canh mít non với cá chuồn. Giờ đang viết mà lại thèm quá là thèm. Dân gian xứ Quảng có câu hát: “Ai về nhắn với bạn nguồn/ mít non gởi xuống, cá chuồn gởi lên”. Câu này có nhiểu dị bản sửa đổi cho hợp với món thực phẩm muốn đề cập. Ở đây là cá chuồn với mít non. Nấu tô canh giữa mùa cá chuồn thì nồi canh lại càng quá đã vì lúc đó bụng cá đẩy trứng. Mà trong tất cả loại cá ở biển khơi, không có loại cá nào có trứng ngon như trứng cá chuồn. Tui đã từng ăn trứng cá Caviar của biển Đen, ăn trứng cá tầm, trứng cá hồi ở Pháp, nhưng mấy thứ trứng cá đó chẳng có cửa gì với trứng cá chuồn Việt Nam. Thật đấy!
Ở miền Trung, cá chuồn chỉ đánh bắt được vào độ chớm hè đến giữa năm, nên trong khoảng thời gian này, tha hồ mà húp canh mít non với cá chuồn. Cá chuồn tươi làm sạch, cắt từng khúc chừng lóng tay, ướp gia vị, nước mắm cho thấm rồi mới khử dầu phụng với vài hạt nén đập dập. Dầu phụng bốc mùi thơm, đổ cá vào um cho đến khi cá thật chín thì đổ vài bát nước sôi vào. Lại chờ cho nước sôi lại thì cho mít non cắt lát sẵn vào, theo dõi đừng cho mít chín quá, mít mềm nhũn ăn không ngon. Nồi canh mít non cá chuổn mà nêm bằng ruốc Huế thì tuyệt cú mèo. Độ mặn mòi của ruốc làm cho bát canh thêm ngon mà không vùng nào có được. Đừng quên cắt vài miếng lá lốt vào. Ôi chao ôi! Mới nhắc mà đã thấy miệng ứa nước miếng, mấy chục năm rồi không được ăn lại tô canh như ri, thèm quá là thèm, nhớ quá là nhớ. Nhà tui đông anh em, hơn chục người, cộng thêm Ba Mạ, người giúp việc nên tô canh to đùng chẳng khác nồi nước lèo của gánh bún. Mấy khúc cá chuồn gắp ra, thịt chắc mà thơm, muốn ăn mặn chấm thêm miếng nước mắm cay xè bởi ớt. Trời ơi răng mà ngon ri hè!!!!! Canh cá chuồn mít non phải ăn cay mới sướng. Nó vừa giúp bớt mùi tanh, nó vừa quyện với nhựa mít và nước ruốc tạo ra một vị rất đặc trưng, không thứ canh nào giống nó.
Duyên tình của mít non và cá chuồn không chỉ dừng lại ở món canh mà còn thêm món cá chuồn kho mít non cũng ngon hết biết. Cá chuồn tươi làm sạch, để cho ráo. Gập con cá chuồn lại và nhét hỗn hợp gồm nén giã dập, sả, ớt trái, muối, tiêu… vào bụng cá rồi lấy dây buộc lại. Mít dùng để kho cá chuồn phải là mít non, để vừa mềm thơm và không xơ cứng. Mít thường được cắt từng miếng bằng ngón tay cái để dễ kho thấm tháp lại gọn miệng ăn. Cho cá vào nồi, châm nước mắm vào. Kho vừa lửa, đến lúc hơi cạn nước và bốc mùi thơm là dọn ra ăn. Chất ngọt của cá, mặn của nước mắm tiêu hành thấm vào sợi mít, ăn với mấy chén cơm bụng no căng mà miệng vẫn thèm.
Như đã nói, cá chuồn làm được nhiều món, món nào cũng ngon.
Chiên, nướng, kho, nấu mặn, nấu ngọt, nấu cháo, hoặc nấu chua, lẩu với dứa, chiên sả bằm, nướng giấy bạc… hoặc làm mắm thính để ăn vào mùa mưa bão. Cá chuồn còn kho với dưa môn (dọc khoai sọ muối), ăn đậm và ngon cơm. Những con có trứng, nấu cháo ngọt hết biết, ăn không biết no. Măng le mà nấu với cá chuồn cũng đậm đà thú vị, bởi vậy Phú Yên có câu ca dao:
"Ai về nhắn với nậu nguồn
Măng le gửi xuống cá chuồn gửi lên”.
Măng le là măng rừng trổ từ cây trúc, cây tre, đặc ruột được đem bóc vỏ già, luộc rồi làm thực phẩm. Cá chuồn nấu măng cũng là món ăn hết sẩy!
Riêng tui, có ba món cá chuồn mà tui thích nhất và nhớ nhất là canh mít non cá chuồn và món cá chuồn chiên hay là nướng.
Để ăn món cá chuồn nướng, sau khi làm sạch con cá, để ráo, ướp sả, ớt, để vài chục phút cho thấm. Đặc biệt, nên nhét vào bụng cá một ít hạt nén đập dập, rưới chút dầu phụng. Thịt cá chuồn thêm ngon khi có nén và dầu phụng. Đặt cá trên bếp than đỏ, cá chuồn nướng chín thơm lừng, gắp một miếng cá, chấm chén nước măm ớt tỏi, lại cắn thêm trái ớt, càng cay càng ngon mà, kẹp thêm ít rau sống, béo thơm của cá chín than hồng vẫn giữ được độ ngọt của biển, chút mặn của nước chấm, mùi thơm đặc biệt của hạt nén với dẩu phụng, chát chát nồng nồng của rau. Cả một bầu trời hương vị nằm trong miệng. Ngon quá chừng chừng
Món chuồn nướng cũng có thể quấn với bánh tráng nướng nhúng nước. Kiểu này ăn kèm rau muống chẻ, cũng ngon chẳng thua gì.Trời mưa mưa, ngồi trong lều nhìn ra biển, nghe sóng vỗ ầm ào, gió biển ào ạt, đốt mấy cục than hồng, nướng con cá chuồn, nhấm nháp miếng cá chuồn nướng, đời thú vị quá đi chứ..he..he
Và rồi đến món cá chuồn chiên. Cũng như mấy món khác, làm sạch ruột, để ráo nguyên con. Vài trái ớt, tiêu, muối, tỏi, sả bằm và đặc biệt không thể thiếu là hạt nén đập dập. Trộn tất cả rồi lấy dao mổ đường theo bụng cá, nhét tất cả hỗn hợp đó vào. Lấy dây buộc cho hỗn hợp không bị rớt ra khi chiên. Cuốn con cá lại thành khoanh. Đổ dầu phụng vào chảo, khử cho thơm, bỏ cá vào, chiên cho đến khi vàng cá. Trời ơi, bao giờ mới được miếng cá chuồn chiên thơm phưng phức đây. Nhớ ơi là nhớ! Thèm ơi là thèm!
Nói chuyện cá chuồn mà không nhắc đến mắm thính cá chuồn là một thiếu sót vô cùng to lớn. Trong các loại mắm thính của người Việt, không thế nào thiếu thính. Thính là gạo rang vàng thơm rồi đem giã mịn như bột. Người ta cũng có thể làm thính bằng bắp, bánh tráng hoặc mè. Tất cả đều được giã mịn sau khi rang trên lửa cho thơm.
Thính là một phụ gia quan trọng trong chế biến một số thức ăn Việt Nam, đặc biệt là làm các loại mắm thính. Mắm thính cá chuồn được chườm với muối cho đến khi rục. Lúc muốn ăn, đem ra nêm nếm với chút đường, ớt, tỏi, hành, mỡ hoặc dầu rồi chưng cách thuỷ. Ăn với thịt ba chỉ luộc càng ngon. Mắm thính cá chuồn cũng là món ngon thần sầu trong những ngày mưa bão dai dẳng của miền Trung.
Chủ nhật vừa rồi ra nghĩa trang thắp nhang mộ Ba Mạ và anh trai. Chợt thèm da diết một bữa cơm có đầy đủ cả nhà, không thiếu một ai. Bữa cơm với những món ăn thật bình dân, thật đơn giản của một thời. Đã trải qua gần hết đời người, đi năm châu bốn bể, ăn không biết bao nhiêu món ngon vật lạ trên đời, tham gia bao nhiêu buổi tiệc tùng. Vẫn khát khao một bữa cơm của gia đình, với những thức ăn Mạ nấu, một ước mơ không bao giờ có được nữa. Gia đình ly tán hết rồi, Ba Mạ và anh Hai đã ở thế giới khác, anh em mỗi người mỗi ngả. Buồn quá. Nhắc con cá chuồn mà nước mắt cứ chảy theo dòng chữ. Ký ức ùa về như giông bão. Tui đã già quá rồi chăng sao cứ nhắc mãi một quá khứ đã đi vào hư vô?
Sài Gòn. 16.10.2018
DODUYNGOC

VIỆT BÁO WEEKEND SỐ 197 RA NGÀY 15.5.2006
BÁO DOANH NHÂN SÀI GÒN CUỐI TUẦN ĐĂNG LẠI
VÀI NÉT VỀ MỘT TAY CHƠI ĐỒ CỔ CỦA SAIGON...
“VUA ĐỒNG HỒ” đặt chân đến Mỹ tìm đồ cổ!
Học trung học kỹ thuật Huế, mò vào Saigon vào Cao đẳng Mỹ Thuật. Bỏ ngang sau 2 năm, lại theo môn Triết đại học văn khoa Saigon, rồi môn cổ ngữ Hán văn Vạn Hạnh. Học, làm, dạy kèm, rồi vẽ,lang thang, rồi học. Cuộc sống “giang hồ” như nhiều thanh niên Miền Trung cùng thời ấy trên đất hoa lệ Saigon, mà hậu vận lại “không đến nỗi nào” nói theo lời tâm sự của chính đương sự: tay sưu tầm đồ cổ Đỗ duy Ngọc. Ông tốt nghiệp cử nhân Việt Hán, trở thành ông thầy giáo gõ đầu trẻ được mấy năm, lại bỏ ngang nghề mô phạm, sống với cây cọ và tranh sơn dầu.
Những chặng đường tưởng là “dở dở ương ương”, theo giòng đời đưa đẩy, ông vào nghề làm bìa sách cho các nhà xuất bản Saigon, và “phất” nhanh! Đài truyền hình Saigon từng giới thiệu họa sĩ Đỗ duy Ngọc đã trình bày ngót 3,000 bìa sách cho các nhà xuất bản Văn Học, Văn Nghệ, PP/HCM, Trẻ, KHXH, Đà Nẵng, Tự Điển VN, ..v.v. Ông đi du lịch lung tung từ Tây Tàu, Nhật, và tuần qua, người ta thấy co mặt ở Phước Lộc Thọ, ngay trung tâm thương mại Quận Cam.
Đỗ duy Ngọc, trông dáng dấp phảng phất nét ước lệ của người họa sĩ và đôi nét giang hồ, một thứ giang hồ của những tay chơi “có của”.
–“Thì người ta vẫn gọi tôi là họa sĩ ấy mà !”, tay sưu tầm đồ cổ 56 tuổi này cười với tôi bên bàn cà phê sân trước Phước Lộc Thọ, nơi anh ta đang được Thầy cũ cùng bằng hữu trường Kỹ Thuật Huế đón tiếp, trong đó có vài người tôi biết tên: Gs Lê đình Thọ ,Gs Phổ, Gs Thiệu. Uống cà phê xong, họ kéo nhau đi thăm các thư viện và bảo tàng mang tên cố Tổng Thống Nixon, Reagan.
Là một trong không nhiều tay sưu tập đồ cổ của VN, anh Đỗ duy Ngọc mang cái sở thích sưu tầm những thứ mình thích, chớ không phải trữ những thứ cổ để buôn bán hầu hái ra tiền. Nên anh nói chưa có bán món nào cả, “cứ thấy lạ, cổ lổ sĩ hoặc tân thời, là mua về cất. Mua không nổi thì tìm đến xem cũng thích thú lắm rồi !”
-Thế mà tôi ở đây đọc báo từng thuật chuyện bên VN, nói anh là vua đồng hồ, vua lồng chim, có thực chăng ?
Tay sưu tập có bộ râu nửa đen nửa bạc trắng này cười nhỏ nhẹ: “Các báo mến mình, nói lên vậy thôi. Tôi chỉ thu thập được hàng trăm cái đồng hồ các loại xưa nay và lồng chim, một số tượng Phật, ché rượu, chén trà,đồ ngà ngọc linh tinh...”
Nghe chén trà, tôi chộp ngay: “có chén nào thuộc tầm cỡ bộ chén cổ uống rượu của Tổ Thiên Thu từng khoe trước mặt Đào Cốc Lục Tiên khoang thuyền chở Lệnh Hồ Xung trên giòng sông Hoàng Hà không ?”
Tay chơi đồ cổ vừa từ Saigon đến cười: “-họa hoằn ông văn sĩ Kim Dung mới có đủ trong thiên Tiếu Ngạo Giang Hồ !”.
Được yêu cầu, anh Ngọc rút trong túi ra cái DVD loại bỏ túi từng mua trên đường du lịch Nhật Bản năm trước. Anh bật cho tôi xem một phần gia sản đồ cổ của anh đang được bảo tàng tại tư thất là một căn nhà 3 tầng, mỗi tầng rộng 200 mét vuông tại thành phố Saigon. Tôi say sưa ngắm các loại đồng hồ qua lắc phát ra đủ thứ âm thanh như đang lạc vào lễ hội một buôn làng nào đó của người cổ sơ châu Phi từng xem đâu đó trong phim: Tiếng gõ kinh kông như tiếng cồng, tiếng đàn thánh thót như dương cầm hòa lẫn tiếng chim hót,tiếng gà gáy o o, tiếng lạch cạch, tiếng cụng ly, hay tiếng kẻng leng ken!. Mỗi loại đồng hồ cổ phát ra một âm thanh riêng, mà mình không thể nào có dịp bước chân vào các phòng khách căn nhà trưởng giả, quí phái thời xưa để thấy được những chiếc đồng hồ quí hiếm. Tất cả được lên giây cót, chứ thuở xưa mấy trăm năm về trước làm gì có cục pin” để thay. Liếc nhìn qua người khách lạ vừa viếng Little Saigon, tôi thấy anh Ngọc xem lại bộ sưu tập của mình (chắc là đến lần thứ...mấy mươi rồi) với ánh mắt say sưa, mê mẩn như ánh mắt thời mình thanh niên chiếu tướng một bóng hồng lần đầu gặp trong đời mà...hợp nhãn.
Anh cho xem hình ảnh bộ sưu tập lồng chim. Cái thú chơi lồng chim, tôi mới biết lần đầu. Tay chơi đồ cổ gật gù khi tôi hỏi: “liệu có cái lồng nào cổ xưa cỡ thế kỷ không?”, rồi cho biết thêm: “Có chiếc lồng hơn hai trăm năm xưa đó, anh à !”. Từ ngạc nhiên chất tre xưa sao mà giữ được bền lâu không mối mọt gậm nhấm, đến những đồ trang sức lỉnh kỉnh lạ mắt đính tòn teng quanh lồng, ngay trong lồng, tôi được biết tên của vài thứ lồng anh Ngọc sưu tập: đó là lồng chim kiểu Võ Tòng đả hổ, lồng Thập Bát La hán, lồng Bách hầu, .v.v. (tên đặt tùy theo hình hay vật chạm khắc bằng ngà voi trang trí trong lồng: Thập Bát tạc 108 vị la hán trong võ Thiếu Lâm, bách hầu tạc 100 con khỉ đùa giỡn trên rừng !..)
Tôi cứ ngỡ lồng chim nào có sơn son thếp vàng như đồ mộc trong hoàng cung, là quí hiếm. Họa sĩ Ngọc cho biết, anh có nhiều lồng chim cổ vài trăm năm, mà thuần túy làm bằng tre. Giá trị hơn, lồng kèm theo những vật trang trí bằng ngà voi được đẽo, chạm khắc tỉ mỉ của các nghệ nhân đời trước. Ngay cái chậu đựng thức ăn cho chim, cũng bằng ngà voi thứ thiệt. Tôi đoán, có lẽ loại lồng này nguyên thủy dành cho giới hoàng gia hay quan quyền, điền chủ thuở xưa chơi, chứ dân giả làm gì vói tới.Mà nếu có, làm sao tránh được trộm đạo viếng nhà.
Một trong những thân hữu tiếp đón tay họa sĩ chơi đồ cổ này tới Quận Cam, giáo sư Lê đình Thọ mô tả: “Tôi đã có dịp thăm ngôi nhà họa sĩ Ngọc, và quả thực thấy đó là nơi tồn trữ đồ cổ trong cảnh trí thơ mộng, tịch lặng nhuốm hương vị thiền. Căn nhà số 129 B đường Nguyễn đình Chính này được giới yêu nghệ thuật biết tới, bởi nhiều bài báo Saigon đã giới thiệu rồi. Vừa bước vô sân yên ắng, lòng mình thấy thanh thản khi nhìn hồ nước và con suối nhỏ chảy róc rách, tai nghe tiếng chim hót líu lo như chào khách.Chim thì chim thiệt, mà lồng thì lồng quí hiếm thời cổ xưa. Vào phòng khách, tôi nhìn mọi thứ trang trí toàn là đồ cổ, ngoại trừ các bức tranh sơn dầu là tác phẩm của Ngọc mới vẽ mươi năm lại đây. Tràng kỹ, kệ, tủ, đều là thứ cổ lỗ sỉ ! Bình hoa bằng sứ,chén, bình trà rượu cũng cổ, có cái từ thuở đời Khang Hy. Hàng loạt kiểu đồng hồ được chưng trước mắt, và khi bước lên lầu, mỗi bậc thang có treo một loại đồng hồ xưa đẹp mắt, lạ lùng. Trong nhiều thứ đồ cổ được sưu tầm, tôi nhận thấy họa sĩ Ngọc có nhiều đồng hồ nhất, nên người ta thường gọi đùa anh ta là ông... Vua Đồng Hồ cũ.”
Vì thời gian tiếp xúc không nhiều, (họa sĩ Ngọc còn phải đi tới các viện bảo tàng nổi tiếng để xem...đồng hồ, coi các bậc vương giả Mỹ chơi đồng hồ thứ gì, hiệu Thụy Sĩ hay Pháp, Anh,Mỹ, còn theo ông thầy cũ Lê đình Thọ lùng tìm đồ cổ bị vô tình đem bán garage sale hay trong các chợ trời Cali), nên tôi chỉ phỏng vấn được đôi câu.
-Họa sĩ chơi đồ cổ từ bao giờ rồi ?
-Tôi mê sưu tập từ nhỏ. Lúc niên thiếu, thấy đồng xu là đã để dành. Sau luân lạc rồi thất lạc. Thực sự bắt tay sưu tập đồ cổ chỉ mới 32 năm rồi. Ấy là năm 1974, lúc ấy tôi đang làm cho chương trình phát triển của Tổng cục gia cư Saigon. Tôi mê cái lồng chim quí hiếm ấy quá, dám bỏ 4 lượng vàng tậu cho được, và cất đến ngày nay. Sau 1975, cuộc sống thay đổi, nhiều đồ gia bảo được rao bán ngoài lề đường. Nhờ vốn liếng chữ Hán từng học, tôi vớ được những đồ cổ như bình sứ đời Khang Hy, các đồng hồ thời cổ Pháp, bộ tẩu thuốc lá, v.v.trong đó có một khối ngọc Miến Điện chạm trổ chùm hoa. Đẹp tuyệt nhưng thiệt là nặng!
-Vào nghề chơi đồ cổ, anh chuyên trị món nào?
-Tôi thấy cái nào đẹp và quí hiếm, đều chơi tuốt. Thế nên có báo ở Saigon nói tôi là “Người ham chơi lung tung”. Đúng ra, tôi sưu tập đồng hồ nhiều hơn. Anh sẽ thấy, ngắm, và nghe tiếng gõ của đồng hồ, như cảm nhận một linh hồn trong đó, không cái nào giống cái nào, và mỗi âm thanh nó phát ra đều nói lên một tâm hồn, một sở thích, một cá tính!
-Thế dân chơi đồ cổ Saigon có ai sưu tập đồng hồ như anh không?
-Mỗi người một sở thích khác nhau. Trong giới đồ cổ, có người chuyên sưu tầm đồ cổ Huế, có người đồ Tây, có người đồ sứ, có người đồ ngọc. Vài chục người trong giới chúng tôi biết nhau, trao đổi hiểu biết lẫn nhau, ngoài sách vở nghiên cứu.
Người Họa sĩ sống nghề vẽ bìa sách và chơi đồ cổ này có nhiều lúc cạn túi lúc còn là sinh viên giang hồ từ Trung vô Nam. Anh cũng từng ghé vô những quán cơm xã hội của Saigon hồi trước năm 1975, nơi chỉ cần 5 đồng là có bữa cơm ăn no mệt nghỉ. Anh từng qua quán cơm chay xã hội VN Quốc Tự nơi sinh viên miền Trung học trường kỹ thuật Phú Thọ và Vạn Hạnh, Sư Phạm, Văn Khoa thường đáo vào. “Có khi hai người chỉ tốn có một phiếu ăn, là thay nhau cầm khay đi nhận phần ăn cơm xã hội”, anh nhớ lại bước đường thời vận mạt. Cũng có lúc anh làm ông thầy cò (corecter) chữa bản vỗ cho báo Đại Dân Tộc.
“Thế làm sao anh vô làm ông co-rech-tơ được ?”.
Họa sĩ Ngọc đáp: “Nhờ Thầy Thích Mãn Giác giới thiệu, lúc đó tôi là sinh viên Vạn Hạnh, còn Thầy làm phó Viện trưởng. Tôi sẽ thu xếp để xin thăm Thầy, và sẽ tìm thăm vợ chồng họa sĩ Hồ Thành Đức”
-Họa sĩ cùng thời với các họa sĩ Đức và Bé Ký?
-Đâu dám, tôi thuộc khóa đàn em, và chỉ học hai năm mỹ thuật Huế, rồi vô Nam.
Họa sĩ Hồ thành Đức là ân nhân của tôi trong những ngày tập tễnh vẽ tranh để bán dạo trong phố Saigon. Ông và họa sĩ Bé Ký từng cho tôi... mượn khung khi triển lãm tranh, cho nhiều ý kiến hội họa, và đôi lúc tôi buồn quá, ông bà rủ tôi đi uống cà phê!
Họa sĩ Đỗ duy Ngọc nói chỉ thích xem và sưu tập đồ cổ, chứ chưa có ý định bán ra bất cứ vật nào. Ông muốn giữ mãi những thứ mình thích cho riêng mình, mà mừng vì có người con trai là tài tử Huy Khánh, “cũng có máu sưu tập đồ cổ như cha”, anh cười nói.
Hỏi sao lại thích chơi đồng hồ nhiều hơn các thứ khác, anh nói nhỏ như lời thì thầm: “ chơi đồng hồ là chơi với thời gian. Nghe tiếng thời gian, giữ thời gian, níu thời gian lại, để biết giá trị của thời gian,..!”
Tôi có cảm tưởng như anh đang làm thơ. Hỏi ra, họa sĩ Ngọc còn có nhiều giây phút trong cuộc sống dành để làm thơ, và đã xuất bản được ba tập rồi...Trên đường du lịch qua Mỹ tìm đồng hồ quí hiếm, họa sĩ Ngọc tạm trú những ngày đầu tại nhà vị thầy học cũ là Gs Lê đình Thọ, số điện thoại 714-552-2652. Sau đó, ông đi một vài nơi để tìm ...những tiếng gõ tiếng ngân báo hiệu thời gian trôi.!
NGUYỄN HÙNG NHIÊN (CALIFORNIA)
Hình: Nhà văn Nhã Ca và Đỗ Duy Ngọc trước tòa soạn VIỆT BÁO

Ai trả lại mùa thu cho tôi
Mùa thu còn Mạ ở trên đời
Có Ba đang tỉa hoa ngoài ngõ
Và có Anh cười trong nắng mai
Ai trả lại mùa thu cho tôi
Trả lại cho tôi chỗ đứng ngồi
Vòng xe quanh phố vui bè bạn
Và nụ hôn chưa phai trên môi
Có nhiều mùa thu đi qua vai
Đường tôi đi trượt suốt quãng dài
Đời qua lắm gió bao lầm lỡ
Cúi mặt trần ai vẫn miệt mài
Còn lại mùa thu nào riêng tôi
Lá vàng theo tóc bạc da mồi
Nhấc chân bên trái đau chân phải
Chỉ cựa mình cũng đau đơn côi
Còn lại mùa thu vọng tiếng than
Tôi bò như sâu suốt mặt sàn
Cơn đau quật ngã tôi bầm mặt
Ước vọng hôm nào như băng tan
Còn chút mùa thu trên đôi tay
Tôi ôm mặt khóc như đang say
Tôi đau như lá rơi qua cửa
Và héo trăng tàn trong heo may
Ai trả lại mùa thu cho tôi
Tôi bay như chim theo mây trôi
Tôi đi như gió qua triền núi
Và sóng muôn trùng kêu tên tôi
Bây giờ tôi còn đâu mùa thu
Bao nhiêu quá khứ hoá sương mù
Tôi ngồi bó gối buồn hơi thở
Đốt cối thuốc chiều nghe âm u
Bây giờ tôi tìm đâu mùa thu
Tóc rụng chân run mắt đợi mù
Trần gian quanh quẩn đôi ba bước
Cánh cửa vài song hoá ngục tù
Bây giờ mùa thu như cơn đau
Bao nhiêu dao nhọn đâm trước sau
Đời xô tôi ngã nằm sấp mặt
Đợi đến thiên thu dạ nát nhàu
15.10.2018
DODUYNGOC

Sự cao quý của người Châu Âu
Đối với nhiều người Trung Quốc, sự quý phái có nghĩa là sống trong một ngôi biệt thự, lái xe Bentley, chơi gôn, làm một kẻ tiêu tiền hoang phí và xem người ta như đầy tớ. Trong thực tế, đó không phải là sự cao quý, mà là tâm thần của những kẻ mới giàu lên. Đối với những người Trung Quốc này, sự giàu có và sự quý phái có nghĩa như nhau. Thực ra thì, chúng hoàn toàn khác biệt. “Giàu có” liên quan đến sự sung túc về của cải vật chất trong khi đó “sự quý phái” liên quan đến sự sung túc về tâm hồn.
Hoàng tử nước Anh Harry là một ví dụ điển hình về sự quý phái. Sau khi tốt nghiệp Học viện quân đội Hoàng gia Anh quốc, ông được cử đến tiền tuyến Afghanistan để làm một xạ thủ súng máy. Gia đình hoàng gia biết rõ sự nguy hiểm ở nơi tiền tuyến, nhưng họ vẫn tin tưởng rằng phụng sự Tổ quốc là một trách nhiệm cao quý. Do vậy, việc làm đó là tất nhiên.
Trong suốt chiến tranh thế giới thứ II, một bức ảnh đã được lưu truyền rộng rãi tại nước Anh. Đó là bức ảnh chụp nhà vua George VI của nước Anh đang thăm khu nhà ổ chuột tại London. Ông đứng trước một căn nhà tồi tàn, nơi ở của một phụ nữ già nghèo xơ xác và hỏi, “Tôi có thể vào không?” Điều này phản ánh một sự tôn trọng đối với những người ở tầng lớp thấp hơn. Một người quý tộc thật sự biết cách tôn trọng người khác.
Vào ngày 21 tháng Giêng năm 1793 trong tòa lâu đài “Place de la Concorde” ở Paris, một tù nhân sắp sửa bị hành hình. Bước đến máy chém, người tù nhân vô tình dẫm lên chân của người đao phủ, ngay lập tức cô ấy nói: “Tôi xin lỗi, thưa ông.” Trong cùng ngày hôm đó, chồng của người phụ nữ ấy, vua Louis XVI đã để lại những lời nói điềm tĩnh và cao thượng khi đứng trước tên đồ tể tàn bạo: “Ta chết một cách vô tội bởi những tội danh được gán cho ta. Ta tha thứ cho kẻ đã gây ra cái chết của ta, và cầu Chúa rằng máu của ngươi sẽ không bao giờ rơi trên đất Pháp.” Một vài phút sau, vua Louis XVI và hoàng hậu của ông bị chém đầu. Hai thế kỷ sau, Tổng thống Pháp Francois Mitterrand, trong buổi lễ kỷ niệm 200 năm cuộc Cách mạng Pháp đã phát biểu một cách long trọng, “Vua Louis XVI là một người tuyệt vời, và cái chết của ông là một bi kịch.”
Vào ngày 28 tháng Mười năm 1910, một người đàn ông 83 tuổi quyết định hiến tặng tất cả tài sản của ông cho người nghèo để giải thoát linh hồn của họ khỏi cuộc sống đầy đau khổ. Ông bước ra khỏi ngôi biệt thự của mình, và cuối cùng ông chết như một người vô gia cư trong một sân ga nhỏ hoang vắng. Ông chính là nhà văn vĩ đại người Nga Leo Tolsoy. Nhiều năm sau, nhà văn nổi tiếng người Áo Stafan Zweig đã bình luận về Tolstoy, “Nếu ông không chịu đựng sự đau khổ thay cho chúng ta thì ông đã không có được tiếng thơm toàn nhân loại.”
Tất cả những người đã được đề cập ở trên đều có những số phận khác nhau, nhưng họ đều có chung một điểm: sự cao quý.
Sự cao quý đại diện cho phẩm giá và nhân cách cao cả
Ở phương Tây, cho đến thế kỉ thứ 18, giới quý tộc vẫn là chủ đạo và đóng vai trò vô cùng quan trọng trong xã hội. Thậm chí cho đến tận ngày nay, Vương quốc Anh vẫn phong tước và danh hiệu cho những người cao quý.
Khi xã hội quý tộc ở phương Tây trở thành xã hội của thường dân, tầng lớp trung lưu cũng không hề tạo ra làn sóng phủ nhận và phê phán văn hóa quý phái. Trái lại, họ còn gửi con em mình đến học ở những trường học ưu tú để học hỏi, để được tặng danh hiệu về tất cả các loại biểu chương hay trang phục, một huy hiệu và một tước vị cao quý, để qua đó họ có thể kế thừa hoàn chỉnh thể hiện của sự cao quý.
Nói về giới quý tộc Vương quốc Anh, một nhà báo người Trung Quốc là Chu An Bình đã từng nói rằng nguyên nhân giúp cho giới quý tộc Anh có thể tồn tại đến ngày nay là nhờ vào sự ủng hộ của dân chúng. Nhìn chung, người Anh luôn tin rằng tinh thần của giới quý tộc đại diện cho phẩm giá và nhân cách cao cả.
Khi vua Henry I của Anh mất năm 1135, cháu trai Stephen và cháu nội Henry II của ông đều tự nhận mình là người thừa kế ngai vàng hợp pháp. Khi đó, Stephen đang ở Vương quốc Anh nên đã được thừa kế ngai vàng. Henry II, lúc này lại đang ở lục địa châu Âu, đã rất tức giận khi nghe tin và tập hợp quân đội tấn công Stephen. Khi ấy, Henry II vẫn còn rất trẻ và chưa có kinh nghiệm nên không có kế hoạch tốt. Khi vừa mới tiến vào bờ biển Bristish Isles (quần đảo ở miền đông bắc Đại Tây Dương, ngăn cách với lục địa châu Âu bởi biển Bắc và biển Măng-sơ), đội quân của Henry II đã cạn kiệt tiền và lương thực.
Vậy Henry II đã làm gì sau đó? Ông đã làm một việc mà không có bất cứ người Trung Hoa nào có thể làm. Đó là viết thư cho Stephen để cầu cứu. Trong thư, ông nói với Stephen rằng ông đã không lên kế hoạch chu đáo và quân đội của ông giờ đây đã hết lương thực. Ông mong Stephen viện trợ để ông có thể đưa đội quân đánh thuê trở về châu Âu. Và Stephen đã rất hào phóng gửi tiền cho Henry II. Và ngay sau đó, Henry II lại phát động cuộc chiến tranh lần thứ 2 để giành lấy ngai vàng.
Người dân Trung Hoa sẽ nghĩ rằng Henry II là kẻ vô ơn bạc nghĩa. Một người vừa mới giúp bạn vượt qua khó khăn, và bây giờ bạn lại tấn công người ấy. Nhưng nhiều quý tộc châu Âu lại khoan dung với địch thủ của mình. Một vài năm sau, khi Henry II trưởng thành hơn, ông lại dẫn một đội quân khổng lồ tấn công Stephen một lần nữa. Và lần này, ông đã giành chiến thắng. Một kết quả thú vị ở đây là ông đã kí một hiệp ước với Stephen cho phép Stephen tiếp tục ngồi trên ngai vàng và Henry II sẽ chỉ lên làm vua sau khi Stephen qua đời.
Trong con mắt của người bình thường, một người cuối cùng giành chiến thắng mà lại không có được ngai vàng thì cũng chẳng có giá trị gì. Ở Trung Quốc, trong một trận chiến giành ngai vàng, một bên chắc chắn phải chết. Câu chuyện sau đây cũng để lại ấn tượng sâu sắc..
Hai người con trai của vua Edward III thuộc dòng họ Công tước xứ Lancaster của Anh và hậu duệ của Công tước xứ York đều mong muốn có được ngai vàng. Điều này đã dẫn đến cuộc chiến tranh giữa hai dòng họ. Nhưng rồi Henry VII của dòng họ Lancaster kết hôn với con gái của Công tước xứ York. Và sau khi hai người kết hôn, hai dòng họ hợp nhất thành một và lập ra Vương triều Tudor.
Những cuộc chiến tranh thời kì Trung cổ ở phương Tây cũng khá giống với những cuộc chiến trong thời kì Xuân Thu của Trung Quốc. Trên chiến trường là kẻ địch nhưng rời chiến trường thì vẫn là bạn hữu. Và cũng có rất nhiều cuộc chiến thời Trung cổ giống như những cuộc chơi của trẻ nhỏ ngày nay.
Một số chính trị gia châu Âu có truyền thống đặc biệt – một vị vua, dù đã bị lật đổ, vẫn luôn được đối xử một cách lịch sự đàng hoàng. Điều này đã phản ánh phong cách hiệp sỹ của người châu Âu. Đó cũng là lý do vì sao trong những cuộc đấu tranh giành quyền lực ở châu Âu rất hiếm khi xảy ra việc tuyệt diệt kẻ thù – vốn thường xuyên xảy ra trong những cuộc chiến tại Trung Quốc.
Đây chính là sự thể hiện rõ nhất của tinh thần cao thượng, tinh thần ấy cho chúng ta biết được rằng đôi khi “cái chết” còn ý nghĩa hơn “cuộc sống tầm thường”.
Tranh giành địa vị một cách khoan hồng, rộng lượng
Giới quý tộc châu Âu thích để lại vấn đề để giải quyết sau đó hơn là đánh mất phong thái của mình. Vào năm 1688, khi tấn công người cha của vợ mình – James II, William III thấy rằng ngai vàng lẽ ra phải thuộc về mình. Và vì thế ông đã giành lấy ngai vàng và giam cầm James II. Ông đã giam lỏng người cha vợ của mình trong một lâu đài gần biển và đồng thời cũng để một chiếc thuyền nhỏ ở gần lâu đài đó. James II đã thấy chiếc thuyền ấy và dùng nó để chạy trốn đến châu Âu.
Sau khi phương Tây phát triển trở thành xã hội dân chủ, truyền thống quý tộc vẫn được duy trì trong những tầng lớp chính trị cao hơn. Chẳng hạn như, trong cuộc nội chiến của nước Mỹ, khi miền Nam phải đối mặt với việc bị đánh bại về lực lượng quân sự, một số quan chức đã đề xuất kế hoạch phân tán lực lượng – đưa binh lính sống cùng nhân dân và rời lên vùng đồi núi để tiến hành chiến tranh du kích. Nhưng chỉ huy trưởng, đại tướng Robert Lee không thông qua đề xuất này; ông nói rằng: “Chiến đấu là nghĩa vụ của quân lính. Nếu chúng ta làm như vậy đồng nghĩa với việc chúng ta đẩy trách nhiệm ấy sang dân thường. Cho dù không phải là một chiến binh xuất sắc, tôi cũng sẽ không đồng ý làm như vậy. Tôi thà chết như một tù nhân chiến tranh để mang lại cuộc sống yên bình cho nhân dân”.
Kẻ thù của ông là vị tổng thống lừng danh, Abraham Lincoln. Tổng thống Lincoln cũng là người khoan hồng, rộng lượng như một nhà quý tộc. Ban đầu, theo quân pháp lẽ ra tổng thống đã nên bắt giam và xử tử tướng Robert Lee. Nhưng vì mong muốn xoa dịu lòng hận thù giữa 2 miền Bắc Nam nên tổng thống Lincoln đã nói với tướng Lee rằng: “Đã đến lúc ông về hưu rồi. Tại sao ông không về nhà đi?”. Và ngay sau đó, tướng Lee đã về hưu trong danh dự và bắt đầu viết ký sự về cuộc đời mình.
Có rất nhiều điều về tinh thần quý tộc mà chúng ta khó có thể hiểu được, ví như về đế quốc Rockefeller. Khi còn học đại học, John D. Rockefeller thường tự là ủi quần áo của mình, tự đơm khuy áo, không hút thuốc, cũng không uống rượu và hiếm khi đi xem phim. Ông ghi chép từng đồng xu đã chi tiêu. Gia đình Rockefeller sống rất tiết kiệm nhưng họ lại rất hào phóng trong việc quyên góp cho cộng đồng. Bill Gates cũng là một ví dụ tương tự. Ông đem những may mắn của ông dành tặng cho xã hội. Ban đầu, những con người này tiết kiệm rồi sau đó quay trở lại đóng góp cho xã hội và đó cũng là một điều rất đáng ngưỡng mộ về tinh thần cùa giới thượng lưu.
Từ một góc nhìn nào đó, tinh thần ấy có thể được xem như là sự hào phóng. Nhưng từ góc nhìn khác, nó lại được xem như là trách nhiệm với xã hội. Do đó, trong ý thức chủ đạo của xã hội phương Tây, ý thức trách nhiệm với xã hội rộng khắp ấy là một điều rất cảm động.
Một ví dụ khác là trong ngành công nghiệp biển phương Tây, có một quy định không thành văn là khi tàu gặp vấn đề và có thể sẽ bị đắm, thuyền trưởng sẽ là người cuối cùng rời khỏi tàu – một số thuyền trưởng thậm chí còn chọn chìm cùng con tàu của họ. Đó cũng chính là ý thức trách nhiệm xuất phát từ tinh thần cao thượng.
Trong bộ phim Titanic, khi con tàu sắp chìm, thuyền trưởng đến khoang điều khiển và quyết định sẽ chết cùng con tàu của mình. Đó chính là ý thức trách nhiệm. Khi tàu bắt đầu chìm dần, thuyền trưởng mời một ban nhạc nhỏ trên tàu chơi nhạc chỉ để giúp mọi người có thể bớt hoang mang lo sợ. Sau khi họ chơi nhạc xong, nhạc trưởng đứng nhìn những nhạc công khác bỏ đi. Và khi hành khách lại hoảng sợ, ông quay về vị trí của mình và chơi violon. Và rổi, tất cả các nhạc công khác cũng quay lại và tiếp tục chơi nhạc. Vào thời điểm trước khi con tàu chìm hẳn, họ bắt tay nhau và nói lời tạm biệt. Người nhạc trưởng nói rằng: “Niềm vinh dự trong cuộc đời tôi là được chơi nhạc với tất cả mọi người tối nay.”
Đây chính là sự thể hiện rõ nhất của tinh thần cao thượng, tinh thần ấy cho chúng ta biết được rằng đôi khi “cái chết” còn ý nghĩa hơn “cuộc sống tầm thường”.
Từ quan điểm đó, tinh thần cao quý không có liên hệ gì với sự giàu có. Những người có được một tâm hồn cao quý có thể không giàu và những người giàu sang có thể không cao quý.
Bản chất của tâm hồn cao quý
“Một quý ông thực sự là người xem nhẹ tiền bạc…“. Người Anh cho rằng một quý ông phải là một người quý phái với phẩm chất chính trực, sự công minh, không e sợ trước khó khăn và còn có khả năng hy sinh bản thân mình. Anh ta không chỉ là một người có danh dự, mà còn là một người có lương tâm. Cũng giống như học giả khoa học chính trị nước Pháp Alexis de Tocqueville đã nói: “Bản chất thực sự của tinh thần cao quý nằm ở danh dự”.
[.....]
Theo Nghiên cứu lịch sử/ The Epoch Times

Định không viết mà rồi cứ ấm ức trong lòng nên phải viết ra, để lâu sình bụng.
Hôm qua có mấy người quen rủ đến nhà cũng một người quen nhưng không biết nhiều lắm nhậu chơi. Tui vốn từ nhỏ đến lớn không biết nhậu, liên tục ngồi quán với bạn bè ngày này qua tháng nọ, nhưng chủ yếu là phá mồi, he...he ăn là chính. Hôm nay cũng thế, rót nửa ly bia, cho nhiều đá, lâu lâu ai mời cũng cụng một cái, hớp một hơi rồi bỏ xuống, ly bia thành ly trà đá. Và mọi người uống nhiều, hết bia đến rượu, hết rượu đến bia, nhiều người say mèm, bắt đầu nói năng vô trật tự, tui bắt đầu thấy khó chịu. Nhưng khó chịu nhất là phải liên tục nghe hát những vài nhạc chế. Có mấy người cầm đàn, thay phiên nhau hát. Nào là chế lời bài Tiểu đoàn 307, rồi đến Hòn Vọng phu, Lấy chồng xa xứ, Đắp mộ cuộc tình, rồi Huế tình yêu của tôi, rồi Huyền thoại mẹ....Đặc biệt là bài Huyền thoại mẹ đến mấy người hát, mỗi người một lời chế khác nhau. Tội nghiệp cho anh Trịnh Công Sơn, biến bài hát thành bài ca sợ vợ.
Hát đến đâu, mọi người vỗ tay tán thưởng đến đó, cười vui rộn cả lên. Mấy chàng ca sĩ chế tự hào, có vẻ rất tự đắc với các bài nhạc chế học lỏm của mình. Có anh xưng là hoạ sĩ, cán bộ của một trường đại học hát đến mấy bài, vừa hát vừa giảng nghe rất kinh, và cũng có vẻ hãnh diện lắm, mũi cứ phầp phồng nở to.
Tui thì tui thấy thiên hạ dễ dãi thật vì chẳng có chi đáng cười nếu không nói là đáng chê trách. Tui cảm thấy ngượng và tự hỏi tại sao mình lại ngồi đây để nghe những thứ nhảm nhí này? Tui bỗng nghĩ tác giả chính thức của các bài hát này chắc là buồn và xấu hổ lắm khi nghe tác phẩm của mình bị chế lại bằng những ca từ thô tục, đời thường như một câu chuyện tiếu lâm. Và tui cũng nghĩ rằng lấy một bài hát rồi chế lời đem phổ biến là một việc làm thô bỉ, thiếu văn hoá. Nó cũng giống như một cách chôm tác phẩm của người khác vậy. Không biết suy nghĩ của tui có khắt khe lắm không? Bởi suy cho cùng, để viết ra được một tác phẩm được phổ biến và quần chúng hâm mộ không phải là việc dễ dàng, đùng một cái, người ta dùng bài hát của mình sửa lời, tác phẩm không còn của mình nữa bởi ca từ lạ hoắc, lại thiếu tính văn học, toàn chứa những từ ngữ lề đường, những nội dung ô trọc, buồn lắm chứ!
Buồn một điều nữa là những bài nhạc chế này không chỉ phổ biến trong giới bình dân, mà cũng có trong những người vỗ ngực là trí thức, văn nghệ sĩ. Trong các cuộc gặp gỡ, rượu chè họ đem ra đãi nhau những bài nhạc chế ấy.
Tui được nghe mấy lần bài Còn thương rau đắng mọc sau hè của nhạc sĩ Bắc Sơn do một anh đạo diễn và một anh diễn viên hát. Hai anh hoàn toàn không sửa lời nhưng lại hát theo giai điệu Tây nguyên. Nghe hay quá là hay. Tui nghĩ nhạc sĩ Bắc Sơn có sống dậy cũng vỗ tay hoan hô. Tui cho rằng đó không gọi là nhạc chế mà chỉ thay đổi điệu nhạc. Điều này là chuyện bình thường. Và nhờ vậy bài hát có sức hấp dẫn kỳ lạ và phải công nhận các nghệ sĩ đó quá tài tình hê...hê. Chế thế mới giỏi chứ. Nghĩ sao nói vậy, ai ném đá thì cứ ném nhé
14.10.2018
DODUYNGOC

Tôi không giống con sư tử về già mỗi đêm làm xiếc
Bởi tôi chưa bao giờ là sư tử
Tôi cũng chẳng là con hổ trong cũi sắt của nhà thơ Thế Lữ
Bởi tôi chưa được là hổ bao giờ
Tôi cũng không là con đại bàng trong tay người nuôi chim
Chờ tiếng còi bay đi săn mồi đem về cho chủ
Tôi bây giờ như chú gà què ăn quẩn cối xay
Như con chó cảnh bị buộc xích đi quanh trong vòng tròn cho phép
Như con chim hèn mọn thả trong lồng giới hạn bởi cánh cửa đóng lại lạnh lùng
Tôi như con cá cảnh nuôi trong chiếc hồ bé tí, quẫy đuôi bên này đụng phía bên kia
Tôi không từng là sư tử nhưng tôi nhớ rừng xanh
Tôi không là con hổ vằn nhưng tôi thèm suối nước
Tôi chưa từng là đại bàng nhưng tôi khát khao trời cao
Tôi chưa là cá nhưng vẫn thèm biển rộng
Tôi chẳng là chim nhưng ước mơ bát ngát với mây xanh
Giờ tôi là con gà, con chim trong lồng, con cá trong chậu
Đến giờ người ta cho ăn
Đến giờ người ta đổ nước
Lệnh vui tôi vui
Lệnh buồn tôi buồn
Lệnh cười tôi cười
Lệnh khóc tôi khóc
Tôi đánh rơi tôi ở chốn nào rồi
Tôi làm người tù không có án
Lúc tuổi đang già
Tôi thèm một tiếng gầm
Tôi cần một tiếng thét
Võ toang lồng ngực
Tôi thèm một phút giương cánh vút bay như tên rời cung
Tôi cần một cái vẫy đuôi cho sóng vỗ
Nhưng tất cả điểu này không làm được nữa
Bởi tôi là tù nhân
Chưa được xử bao giờ
Tôi nằm ủ rũ đợi thiên thu
Tôi giả mù, giả điếc giả câm
Để khỏi thấy, khỏi nghe, khỏi nói
Tôi đối diện với im lặng
Và đó là cách tôi trả lời
Tôi biết là tôi rất khó để làm lại, để đổi thay
Tôi chỉ tiếc tôi biết điều này quá trễ
11.10.2018
DODUYNGOC

Thật lòng, khi đọc tin trên báo đăng phát biểu của ông, tui thất vọng quá, bởi trước đây tui tin ông quá.
Lâu nay trên diễn đàn Quốc hội, những phát biểu của ông rất hợp lòng dân, dân thấy ông hiều họ, đồng lòng với họ, nói lên được khát vọng của dân. Người dân, trong đó có tui, trân trọng ông. Đùng một cái, ông quẹo cua 180 độ, cho rằng TP HCM phải có một nhà hát hiện đại và tương xứng với phát triển kinh tế. "Người dân TP đi quốc gia khác thấy nhà hát của người ta như thế mới thấy mình thiệt thòi".
Thưa với ông, nếu nói thiệt thòi thì dân Sài Gòn thiệt thòi vì mang tiếng là cư dân ở một thành phố lớn nhất nước, năng động nhất nước, đóng thuế cao nhất nước nhưng dân Sài Gòn vẫn phải nằm trên giường bệnh ba người, phải nằm dưới sàn nhà, phải nằm ở hành lang. Nếu ông chưa biết thì mời ông đến bệnh viện Ung bướu Thành phố, đến bệnh viện Nhi đồng để thấy những em bé, những người già, những người đang chống chọi với cái chết đang sống như thế nào?
Ông hãy đến Bệnh viện Đại học Y Dược, Bệnh viện Ung Bướu, Bệnh viện Tai Mũi Họng, Bệnh viện ND Gia Định và nhiều bệnh viện khác nữa để thấy bệnh nhân phải đến xếp hàng từ ba giờ sáng để lấy được một cái thẻ khám bệnh. Họ là những người nai lưng đóng thuế cả đấy, đáng lẽ ra họ phải được ung dung để được hưởng những phúc lợi xã hội, như thế có thiệt thòi không?
Người dân Sài Gòn phải lội bì bõm trong bể nước đầy rác rến và xác động vật chết trên những con đường ngập nước sau một ngày làm việc vất vả. Những con đường ngàn tỷ đầy những ổ voi chỉ cần sơ sẩy tay lái là có thể cướp đi sinh mạng.
Người dân Sài Gòn thiệt thòi vì hàng ngày phải thở trong bầu không khí đầy khói bụi, đưa vào cơ thể những thực phẩm ô nhiễm và toàn chất độc có thể đưa đến bệnh tật chết người. Phải đi trên những con lộ không bóng cây xanh.
Người dân Sài Gòn thiệt thòi vì cuộc sống không được bảo vệ, đi ra đường với nhiều đe doạ của nạn cướp giật, kẻ cướp có thể tước đoạt cuộc sống và tài sản của họ bất cứ lúc nào nhưng chính quyền bất lực.
Người dân Sài Gòn thiệt thòi vì không hưởng được cuộc sống đáng lẽ họ đáng được hưởng vì dân Sài Gòn đã hi sinh quá nhiều rồi, đáng được hưởng những cơ sở hạ tầng tốt hơn, an ninh hơn nhưng thành phố này lại bị hạn chế phát triển và không được ưu tiên phát triển dù đóng góp cao nhất.
Mang tiếng là công dân thành phố, nhưng còn rất nhiều lớp học nhồi nhét đến năm sáu chục học sinh trong căn phòng bé tý nhưng tiền đóng hàng tháng không phải là ít. Đó mới là thiệt thòi.
Người Sài Gòn cảm thấy thiệt thòi vì dần dần những di sản biểu tượng hồn vía của thành phố này, những hàng cây lưu niên ghi nhiều ký ức một thời của họ bị đập bỏ, bị đốn hạ. Họ thiệt thòi vì bị đánh cắp những kỷ niệm. Những dòng sông bờ kinh, cây cầu, ngôi chùa, nhà thờ của quá khứ bị bức tử cũng là thiệt thòi của cư dân Sài Gòn.
Và nổi bật là những người dân ở Thủ Thiêm, nơi sẽ xây dựng nhà hát 1.500 tỷ mà ông đang cổ vũ là những nạn nhân mà suốt gần hai mươi năm nay, tiếng kêu oán hận ngất trời của họ vẫn là tiếng kêu vô vọng. Người ta đã dùng quyền lực và thủ đọan tàn nhẫn để cướp đất đai, nhà cửa của họ, đẩy họ trở thành những người vô gia cư, đầu đường xó chợ. Biết bao lời hứa, biết bao lời hẹn và cả lời xin lỗi, nhưng họ vẫn là những kẻ thiệt thòi. Họ không những thiệt thòi và tài sản, họ đã thiệt thòi cả tính mạng. Và với cách giải quyết như thế này, họ sẽ thiệt thòi cả tương lai.
Người dân Sài Gòn, người dân Thủ Thiêm chưa bao giờ và không bao giờ cảm thấy thiệt thòi vì thành phố này chưa có một nhà hát giao hưởng 1.500 tỷ. Họ cũng chưa bao giờ so sánh với Singapore, với Úc, với Pháp vì chưa có nhà hát như các nước. Bởi họ chưa cần những thứ đấy, họ đang vật lộn với đời sống, họ đang kêu oan vì bị cướp đất, họ đang cố kiếm tiền để mua thuốc chữa bệnh, kiếm gạo để có chén cơm.
Hơn nữa, họ biết rõ rằng, khi nhà hát đó hoàn thành, nơi đó cũng không phải là chỗ dành cho họ. Họ không đủ tiền để có thể mua chiếc vé hàng triệu đồng để vào nghe loại hình nghệ thuật mà họ chẳng hiểu chút gì. Họ cũng không có những bộ áo quần đắt tiền, sang trọng để vào chốn ấy. Và như thế họ vẫn tiếp tục bị thiệt thòi.
Người dân Sài Gòn chịu lắm thiệt thòi, nhưng không cảm thấy thiệt thòi vì thiếu nhà hát như ông phát biểu. Ông nên nhớ điều đó. Ông đang ngộ nhận rồi, ông Trương Trọng Nghĩa ạ. Tui thất vọng về ông, tui cảm thấy buồn vì ông quẹo cua lẹ quá. Cũng tiếc thật!


DODUYNGOC

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget