Đỗ Duy Ngọc

Latest Post

 










Ăn trưa như mọi lần ở Hương Giang. Dân Huynh về từ Mỹ bảo làm sao gởi mấy máy ảnh cho anh Hồ Xuân Bổn ở Đà Nẵng. Tui bảo tốt nhất là mang ra. Nhìn nhau rồi gật đầu, thế là quyết định đi, chớp nhoáng, nhanh lẹ. Cô em lo lấy vé, tui nhắn tin nhanh ra Đà Nẵng lấy phòng. Thế là xong. 

Gặp nhau ở phi trường 6:30 như đã hẹn. Đông nghẹt người, nối đuôi nhau dài dằng dặc. Tui đi xe lăn, ưu tiên check in, ưu tiên khám xét. Nhân viên phục vụ của Vietnam Airlines nhiệt tình, chu đáo, dễ thương. Khu T3 của phi trường Tân Sơn Nhứt dài hun hút, lại không có đường ống lên máy bay, tui được đưa lên bằng xe cẩu he..he. Lại có chuyện vui.

Một giờ sau đã đặt chân đến Đà Nẵng. Trời đẹp, mát dịu, nắng vàng. Bạn Huỳnh Anh đón sẵn, hành lý của tui gọn nhẹ, chỉ có chiếc túi vải. Đến ngay Tiến Hưng ăn dĩa bánh cuốn. Bao nhiêu năm rồi, cứ đến xứ này việc đầu tiên là đến quán này. Dĩa bánh cuốn ở đây gọi cho đúng kiểu dân Nam là bánh ướt, rắc chút hành phi, chút ruốc thịt. Vậy mà ngon, thế mà ghiền. 

Đến khách sạn Đông Dương gởi hành lý. Cảm ơn bạn Quách Lực trước khi đi Mỹ đã lấy phòng và gởi gắm cho anh Huy Nhựt chủ khách sạn. Tui đã ở đây mấy lần nhưng mấy người bạn đồng hành thì trầm trồ, ngạc nhiên vì tầng trệt khách sạn như một bảo tàng với biết bao đồ cổ: đồng hồ, máy hát, xe xưa và nhiều vật dụng khác tràn ngập căn phòng rộng.

Lên xe, đến thắp nhang Nguyễn Ngọc Thành, người bạn vừa mất vì bạo bệnh. Cửa đóng im ỉm, gọi mãi không lời đáp. Thấp thoáng bóng người từ cửa sổ trên lầu nhìn xuống, nhưng không mở cửa. Chờ không được, cả bọn đứng bên hè đường bái vọng. Nhiều lần hứa với Thành ra Đà Nẵng gặp, hứa rất nhiều và cũng nhiều lần thất hứa, xin lỗi bạn Thành, lời khấn này như lời tạ lỗi và tiễn biệt.

Thẳng tiến vào Hội An, vẫn con đường cũ, vẫn những cơ ngơi đồ sộ bên đường sát biển giờ chỉ là hàng loạt biệt thự, khu vui chơi không một bóng người. Biết bao tiền của đổ vào, biết bao công sức dựng xây giờ là những ngôi nhà ma. Không biết đằng sau, những chủ nhân còn có âm mưu, tính toán gì khi những công trình bao vây biển và sát vách với phi trường Nước Mặn, một căn cứ quân sự.

Hội An vẫn thế, sợ nhất những chiếc lồng đèn đủ màu treo la liệt khắp nơi biến nơi xinh đẹp này thành một khu loè loẹt màu sắc. Du khách vẫn đông, Hàn Quốc, Trung Quốc, dân Tây. Nhớ cách đây hơn sáu mươi năm, lần đầu đến với Phố Hội, sao mà dễ thương, sao mà thân tình với những ngôi nhà xưa ngói nâu thấp, những con đường nhỏ, những khóm cây đỏ rực một góc phố với những bức tường vàng. Với sông Hoài lững lờ, những con thuyền nhỏ vẽ con mắt ở mũi thuyền lướt về Cồn Bắp. Với chùa Cầu và hai con chó đá ngồi canh. Phố vắng, mái ngói nâu, những cánh cửa vẽ hình con mắt, những ngạch cửa ngăn không ai phải vội vã bước vào nhà, khiến bước đi khoan thai, chậm rãi hơn. Cảnh nên thơ của ngày xưa đâu mất, giờ Hội An nhiều màu, đông khách nhưng Hội An không còn Hội An của một thời.

Liên lạc với anh Dương Phú Tâm, nhiếp ảnh gia ở Hội An. Rủ nhau đi xem triển lãm tranh của Hoạ sĩ Vũ Hoà, về từ Pháp. Phòng triển lãm tổ chức ở Bảo tàng gỗ lũa. Lại được dịp đi xem những tác phẩm từ gỗ lũa, rất tiếc đa số là hàng mỹ nghệ. Cũng rất tiếc là phòng tranh đến chiều mới mở cửa. Đành trôi về Cẩm Phô ăn bánh đập quán Bà Già. Có lẽ tuổi hơi nhiều, khẩu vị đổi thay, ăn bánh đập, mắm cái, mít trộn, hến xào, bánh tráng, cao lầu không còn ngon như những lần trước. 

Vào phố cổ, đôi chân không cho phép nên nhường mọi người đi bộ lang thang, tui nhờ anh Tâm chở vào quán cà phê góc chùa Cầu, ngồi nhìn sông Hoài, nhìn người đi, nhớ nhiều chuyện, nhớ những người đã cũng tui đến đây nhiều lần. Tất cả chỉ còn là ký ức.

Về lại Đà Nẵng sau cuộc chia tay bịn rịn với bạn Tâm, với ngõ ngách không còn như xưa của Hội An. Mệt nhoài. Cả bọn lại kéo nhau về quận Ba ăn hải sản. Giá rẻ, thức ăn được, bạn bè cười giỡn suốt, còn đòi chi. Về lại khách sạn đã đuối, nằm thẳng lưng một chút đã ngủ khò. Ở nhà thức đến hai, ba giờ sáng, dỗ hoài không được giấc ngủ. Thế mà lạ chỗ, ngủ ngay, thì ra bình thường vì thiếu vận động, thiếu tiếng cười vui nên giấc ngủ khó về.

Ăn sáng tại khách sạn rồi thẳng tiến ra Huế. Vẫn tràn ngập tiếng cười vui, đùa giỡn trên xe. Qua hầm Hải Vân, qua Phú Thượng, đến Phú Lộc, gần đến Phú Bài, cũng như mọi lần đến Huế ghé quán bánh ướt thịt quay Bà Sửu. Mỗi lần ghé đây, tui mua mấy ký ớt bột mang về. Vốn là Người Việt gốc ớt, thiếu ớt khó ăn. 

Đến thành phố Huế, tìm đến thăm đạo diễn, nghệ sĩ Quý Tiết. Nhà Quý Tiết là quán cà phê trong khu nhà rất Huế. Bình phong khi qua cửa, ao cá và ngôi nhà lợp ngói âm dương đã ngả màu tháng năm. Lại cà phê, tui lại thêm một ly cacao đá. Lại tiếp tục chụp hình và những cái bắt tay thân tình.

Trưa. Chạy về Vỹ Dạ tìm Quán cơm Mắm Cô Ri. Quán cơm năm nào anh Hồ Đăng Định, tức nhà văn Quế Chi, cũng là chàng công tử xứ Huế ngày xưa đã dẫn tui ăn cách đây mấy năm. Vỹ Dạ không còn như trong thơ Hàn Mặc Tử. Trách chi. Thời gian với biết bao biến cố, biết bao đổi thay. Tìm đâu ra mấy hàng cau với nắng mới lên khi cửa nhà san sát. Tìm đâu thấy những vườn xanh như ngọc và còn đâu lá trúc với mặt chữ điền. Cũng chẳng còn sương khói mờ nhân ảnh. Nhưng tình người phương xa vẫn còn đậm đà với Vỹ Dạ với nỗi tiếc nuối trước cuộc bể dâu.

Quán đẹp, khách đông, mâm cơm dọn ra rất Huế. Sẽ còn tìm đến nơi này khi đến Huế.

Đứng bóng, nóng hầm hập. Đi qua Phá Tam Giang nhìn cây cầu dây văng đỏ mới xây. Mênh mông nước trên Phá Tam Giang. Nhớ bài thơ Chiều trên Phá Tam Giang của nhà thơ Tô Thuỳ Yên viết cách đây hơn nửa thế kỷ. Nhớ bài hát cùng tên của Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Nhớ tiếng hát Nhật Trường và Thanh Lan trên truyền hình của một thời không tìm thấy nữa.

Qua thành phố ma của những lăng mộ đồ sộ ở làng An Bằng. Mấy lần trước ngang qua, các lăng mộ chỉ toàn trang trí bằng chén kiểu, sành sứ nhìn còn thuận mắt. Giờ đổi màu, toàn màu đỏ với nhũ vàng sặc sỡ chói mắt nhấp nhô dưới ánh nắng chiều. Nhìn ghê quá. Buồn cho quan niệm thẩm mỹ. Tưởng kiểu sơn son thiếp vàng này chỉ có ở lăng mộ, ai ngờ nhiều chùa quanh đấy cũng thế. Đỏ rực và vàng choé. Sợ thiệt!

Ra biển. Chiếc thuyền đang chuẩn bị ra khơi. Giờ tân tiến cơ giới hoá rồi nên xe cẩu kéo thuyền ra biển chứ không còn những cánh tay nhuốm mùi mặn của biển đẩy thuyền như xưa nữa. Sóng liên tiếp vào bờ, ráng chiều đã hiện, mùi tanh của cá, mùi của biển tràn ngập. Tui đứng trên bờ nhìn ra, chân trời xa tít, tự hỏi như Đạo diễn Trần Văn Thuỷ trong cuốn Nếu đi hết biển. Cuốn sách ghi lại các cuộc phỏng vấn và bài nói chuyện của tác giả. Tui chỉ mượn nhan đề của cuốn sách và tự hỏi: Ừ nếu đi hết biển sẽ đến đâu? Rồi sẽ trở về chốn đã bắt đầu đi. Như Siddhartha trong Câu chuyện dòng sông của Hermann Hesse.

Đi qua những đầm phá cuối cùng, những nhà chồ trơ trọi giữa đồng nước, những con thuyền cào vỏ ốc trầm tích dưới đáy sông. Những con người lặng lẽ ngâm mình dưới nước để kiếm sống.

Lại qua hầm Hải Vân, để lại phía sau thành phố Huế vừa ghé qua chưa đủ một ngày nhưng nhắc nhiều kỷ niệm của một thời đang cố để quên.

Đèn Đà Nẵng đã bật sáng, bữa cơm tối là quán bún bò ở đường Đống Đa. Để lại bạn Dân Huỳnh với cô con gái nuôi. Về lại khách sạn tìm giấc ngủ sau một ngày rong ruổi.

Ngày cuối ở Đà Nẵng. Lại là một buổi rất vui. Ăn sáng xong thì gặp Huy Nhựt, chủ khách sạn Đông Dương mà bạn Quách Lực gởi gắm bọn tui trước khi đi Mỹ. Bạn Huy Nhựt trách tui sao mấy hôm rồi không liên lạc. Tui đành cười giả lả chứ biết nói chi hơn. Huy Nhựt giới thiệu sơ về bộ sưu tập đồ cổ của anh, sau đó là cùng hát cho nhau nghe. Không ngờ anh chủ trẻ này có giọng ca hay quá. Nhấn nhá, luyến láy không thua gì ca sĩ chuyên nghiệp. Sau đó là bữa ăn trưa do anh chủ khách sạn khoản đãi. Món ăn thuần Quảng Nam: cá hố kho dưa cải muối, cá nục kho khô, canh cá tươi ngon đến giọt cuối cùng, thịt heo luộc chấm mắm tôm. Toàn món ngon nhưng bác sĩ cấm những người suy thận. Nhưng kệ! Ngon thì cứ thưởng thức cái đã. Lần trước ra đây kiếm mãi món cá hố mà tìm không ra. Bởi đây là những món ăn của ký ức. Của một thời xa lắc khi tui còn ở xứ này lúc gia đình còn đủ mặt. Giờ nhìn mâm cơm với những món của ngày xưa lại nhớ Ba, nhớ Mạ, nhớ anh chị em, nhớ một gia đình đông vui một thuở. Giờ Ba, Mạ, anh Lượng, em Châu đã mất. Chị em còn lại tản mác bốn phương trời. Ăn món cũ lòng luống ngậm ngùi, không lẽ khóc khi mọi người đang vui? 

Bạn Huỳnh Anh chở ra phi trường. Cảm ơn bạn đã tận tình giúp cho bọn này suốt mấy hôm nay. Ôm nhau tạm biệt. Lại đi theo lối ưu tiên cho người già. Cũng may có ống nên không cần xe cẩu cái thân già này lên cửa máy bay. Tạm biệt Đà Nẵng với những mối thân tình không thể nào quên.

Khi máy bay cất cánh tự nhiên tui bị lạnh, người run lập cập. Tui dấu không nói với bạn Dân. Chắc nhuốm bệnh rồi. Về đến Sài Gòn thì cơn sốt ùa tới. Về đến nhà, người lảo đảo, chạy vội lên phòng. Lúc đó phát hiện mấy hủ ớt bị bung nắp, bột ớt cay làm họng rát, ho và nhảy mũi liên tục. Châm dứt chuyến đi bằng cơn ho vì ớt.

Viết thêm: khi đang viết bài này, điện thoại reo, số lạ. Bên kia nói với giọng đe doạ: Chú Ngọc phải không? Đây là công an, có chuyện trao đổi với chú. Nghe hơi là tui biết lừa đảo rồi. Tui già nhưng chưa ngu. Tui gằn giọng: Ngọc đây. Có chuyện gì nói nhanh. Bên kia biết đã bị lộ bèn tung ra một loạt chửi thề rồi cúp máy. Dễ gì lừa được già này he..he

Tường trình chuyến đi đến đây là hết. Cảm ơn bạn hữu đồng hành đã tạo nên một chuyến đi vui có nhiều điều để nhớ.

DODUYNGOC




















 






Tối nay 25.10, đành dời ngày gặp bạn bè tiễn người bạn về Mỹ để gặp lại những người học trò lớp 12A6 cách đây 42 năm. Taxi vừa đến nơi nhóm ra đón toàn những người đã đến tuổi 60. Ai cũng có nét thời gian, ai cũng đọng nét tàn phai. Nhưng tình cảm không phai tàn theo năm tháng. Mọi người ngạc nhiên khi người thầy đã U80 gọi tên từng người và nhắc lại những đặc điểm của mỗi người học trò cũ. Thời gian qua nhanh, giờ người là Bác sĩ, đứa Dược sĩ, kẻ Kỹ sư. …Trôi giạt bốn phương trời, có dịp gặp lại nhau. Tình cảm của những người học trò cũ khiến ông thầy già cảm động. Buổi gặp gỡ hình như trở thành lớp học của 42 năm trước, thời người thầy râu tóc còn xanh và những cô cậu học trò là những thanh niên mới lớn. Những Tuấn, Mộng Thu, Tuyết Vân, Minh Tuấn, Dũng, Khoa, Chiến, Tuấn và các bà vợ có dịp ngồi lại kể chuyện ngày xưa. Chuyện ông thầy tóc dài, để râu mép, mặc quần jean vào lớp dạy không sách vở, chẳng giáo án. Chuyện những người trẻ và những trò nghịch ngợm được nhắc lại. Ôi một vùng ký ức đã trở về. Buồn vui lẫn lộn. Những tấm ảnh cũ được đưa ra, những tấm ảnh đã ố vàng nhưng khuôn mặt trong hình vẫn tươi rói. Sắp xếp đội hình như tấm ảnh cũ để chụp một tấm hình mới. Vị trí như 42 năm trước nhưng những khuôn mặt đã nhuốm màu thời gian. Cảm ơn những người học trò cũ đã cho lão thầy già này sống lại quãng thời gian dù nghèo nhưng rất đẹp. Cảm ơn các em.

 







Sáng nay rảnh rỗi tụ tập sang nhà người bạn ở Phú Mỹ Hưng. Trong đoàn có bạn Hiếu Piano, một Pianist sừng sỏ của đất Sài Gòn. Do vậy khi vào phòng khách thấy cây đàn Piano nằm chễm chệ ở trong phòng, Hiếu thấy mình chạy đâu cho thoát, chắc chắn là phải ngồi vào đàn rồi. 

Tạm ăn sáng với croissant và fromage, Hiếu đánh đàn theo yêu cầu. Cô chủ nhà duyên dáng đề nghị La Vie en Rose, mở đầu vậy là cũng đẹp. Đây là bản tình ca bất hủ mang tính biểu tượng của nền âm nhạc Pháp, do huyền thoại âm nhạc Édith Piaf sáng tác lời và thể hiện cách đây 80 năm. 

https://youtu.be/qPU8mENUBXk?si=nm_qcTPNxEjW6bNy

Tới tui, đang buồn đời nên yêu cầu Mal, bài hát rên rỉ một thời nổi tiếng của giới trẻ miền Nam. Bài này là một ca khúc nhạc Pháp do danh ca Christophe trình bày. 

https://youtu.be/Qh8kqxwQpYg?si=t_fGTsPmgl_2DdkA

Anh bạn tui về từ Mỹ lại khoái Love Story, bài hát chính trong bộ phim kinh điển Love Story (Chuyện tình) năm 1970, do nhạc sĩ người Pháp Francis Lai soạn nhạc và phần lời tiếng Anh do Carl Sigman viết.

https://youtu.be/mCa07ujl3jM?si=6VXqRKWpan0K5-Xv

Nghe những bài hát cũ lại nhớ nhạc phim của một thời. Những bài hát trong phim nổi tiếng không khác gì phim. Khi màn hình hiện chữ Hết, ánh sáng rạp bừng lên, khán giả ra về nhưng tiếng hát, lời ca, điệu nhạc vẫn vương vấn mãi mấy chục năm sau, không quên được.

Đó là tiếng kèn, tiếng vó ngựa, tiếng súng nổ, tiếng huýt sáo trong những phim Cowboy miền Viễn Tây với những khuôn mặt khó quên. Nhắc đến phim Cowboy miền Viễn Tây (Western) là nhắc đến một thời kỳ vàng son của điện ảnh Mỹ và cả dòng phim cao bồi Ý (Spaghetti Western). Đó là các diễn viên John Wayne, là Clint Eastwood. Còn có Gary Cooper, James Stewart, Burt Lancaster, Kirk Douglas, Yul Brynner, Steve McQueen. Đặc biệt nhớ nhiều là Charles Bronson một khuôn mặt rắn rỏi, ít nói, đầy vẻ bí ẩn. Còn có Henry Fonda, Lee Van Cleef, Franco Nero, Anthony Quinn và William Holden….những gương mặt rất quen thuộc với khán giả yêu phim Viễn Tây.

Những giai điệu trong loại phim này có sức sống kỳ lạ. Sau năm , sáu chục năm rồi, có thể chỉ còn nhớ mang máng cốt truyện phim, có thể quên mất tên diễn viên. Nhưng chỉ cần nghe tiếng kèn Harmonica, tiếng guitar điện, tiếng huýt sáo, tiếng ngựa phi lọc cọc, người ta hình dung những người hùng trên lưng ngựa với chiếc nón rộng vành, khẩu súng bên hông hay cầm tay cô độc trên con đường đầy bụi, hoàng hôn đỏ rực và những cuộc đấu súng rút ra khỏi bao nhanh như chớp.

Mỗi lần nghe những đoạn nhạc này, tôi hình dung lại tuổi thanh niên, thời của những đắm say và nhiều khát vọng . Thời gian đã trôi đi, râu tóc từ xanh đến bạc trắng, giai điệu vẫn còn mãi và người càng lúc càng già đi nhưng không quên được những giai điệu tuyệt vời của ký ức.

https://youtu.be/XnzLIdvaPBU?si=Cd8zlPFS3rb15fk_

Chưa hết, còn nhạc trong phim Doctor Zhivago. Phim được chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết nổi tiếng cùng tên năm 1957 của nhà văn Nga Boris Pasternak với diễn viên Omar Sharif (vai Bác sĩ Yuri Zhivago) và Julie Christie (vai Lara Antipova). Bản nhạc "Lara's Theme" (La Chanson de Lara) do Maurice Jarre sáng tác đã trở thành một trong những giai điệu bất hủ của âm nhạc điện ảnh thế giới.

https://youtu.be/gzEEB8MeD0c?si=1ogPllxojy8OS-Wq

Và Romeo and Juliet: Nino Rota viết một giai điệu có vẻ đẹp cổ điển, vừa tha thiết vừa dự báo bi kịch. Sau đó, A Time for Us trở thành ca khúc được nhiều giọng hát nổi tiếng trình bày.

https://youtu.be/4FHpmn-KYec?si=1-WpSpLqfGqsYz1X

Đến phim Bố Già (Godfather), chen nhau mua vé, tìm sách với bản dịch của Ngọc Thứ Lang về đọc. Một bản dịch mang hơi hám, giọng điệu của thế giới Mafia. Bản dịch tuyệt vời. Và bản nhạc nổi tiếng nhất là "Speak Softly Love" do Nino Rota soạn nhạc và Larry Kusik viết lời.

https://youtu.be/AJgE_dLWsuQ?si=SIỈmWhRBRpXTUqhE 

Phim Cầu sông Kwai là bản "The River Kwai March" kết hợp với giai điệu huýt sáo của bản hành khúc "Colonel Bogey March". Tác phẩm này được soạn bởi nhạc sĩ người Anh Malcolm Arnold.

https://youtu.be/CB8F8g1-4Uw?si=q-Yt9ToôpyiQp44E

Cũng không quên phim Casablanca. Nhạc Ca khúc chính thức trong phim: "As Time Goes By" Phần nhạc nền (score) xuất sắc của phim do nhạc sĩ lừng danh Max Steiner biên soạn, nhưng linh hồn âm nhạc của bộ phim lại là ca khúc "As Time Goes By" (sáng tác bởi Herman Hupfeld từ năm 1931)

https://youtu.be/-RFqGOzk25w?si=hZjprJYPXgeMsucp

Và còn nhiều, nhiều lắm mà tuổi già quên gần hết rồi. Nhớ chừng đó thôi cũng cảm thấy đủ. Khuya rồi, ngủ đây.

17.10.2026

DODUYNGOC

 


Đi ăn trưa với đồng bọn, tình cờ gặp Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc ở quán Đo Đo. Hai người họ Đỗ cùng tên Ngọc này có nhiều “ân oán”. Trước đây có nhiều bài viết của tui trên Facebook bị lan truyền khá rộng trên không gian mạng với cái tên BS Đỗ Hồng Ngọc, lại kèm theo chân dung của vị Bác sĩ đáng kính này. Tôi đã nhiều lần viết bài đính chính cũng như đề nghị không lan truyền bài viết nữa vì không muốn làm phiền và hiểu lầm không có lợi cho anh. Nhưng lâu lâu bài vẫn xuất hiện và đôi lúc vẫn còn ghi tên BS Đỗ Hồng Ngọc. Rầu ghê! Gặp nhau rất mừng thấy BS Đỗ Hồng Ngọc vẫn khoẻ mạnh dù đã đến tuổi 86. Tôi nhỏ hơn đúng 10 tuổi mà thấy rệu rã rồi.

 


Không ngờ một kẻ lông bông, tào lao, ba trợn như tui mà lại có duyên với Phật Pháp. Chuyện là hai vợ chồng cậu em người bạn thân từ Mỹ về đi lễ chùa, thấy trong chùa có sách ấn tống: tức là sách Phật tử in cúng cho chùa, in truyện ngắn Bước không qua số phận của tui. Ngạc nhiên vì từ xưa đến nay, người ta thường in Kinh Nhật tụng, Kinh Cầu an, Cầu siêu cúng chùa chứ bao giờ lại in truyện ngắn làm sách ấn tống. Lại nghĩ tui viết truyện này có nói gì về Đạo Phật đâu? Cậu em hỏi khi in như thế này có trao đổi gì với tui không? Tui bảo chẳng biết gì mà cũng chẳng nghe ai nói gì. Thôi thì viết truyện ngày nay mà có người đọc là tốt rồi, chẳng thắc mắc mần chi. Bởi tui đâu có kiếm cơm bằng văn chương đâu, băn khoăn làm chi cho mệt người. Chỉ hơi rầu một chút là cái tựa truyện bị đổi thành Khó vượt qua số phận. Lại ghi thêm là hồi ký của tui. Tầm bậy! Đây chỉ là truyện, nhiều phần là sự thật nhưng cũng có nhiều hư cấu. Người đọc nghĩ là hồi ký lại bảo tui này nọ, không vui. Nghe thêm cách đây mấy năm, Sư cô Tâm Tâm, là giảng sư thường đi thuyết pháp, pháp thoại ở các chùa và trường học Phật Giáo có dùng truyện này làm đề tài thuyết pháp. Không biết nói sao vì tui cứ nghĩ mình là kẻ hoang đàng, giờ truyện lại được ấn tống và giảng pháp tại chùa. Vinh hạnh cũng có một chút nhưng cảm thấy hổ thẹn nhiều hơn.

https://youtu.be/veCJqcoKjrk?si=0VY3UhnG5vDQG_eL

 





Với chủ đề LIFE OF TREES , Nhiếp ảnh gia Hoàng Thế Nhiệm đang tổ chức triển lãm ảnh tại 224 Space từ ngày 10.10.2026.

Với những người cầm máy ở Việt Nam, Hoàng Thế Nhiệm là cái tên quen thuộc và được mọi người yêu kính và trân trọng. Tên của anh cũng có vị trí ở nước ngoài qua những cuộc triển lãm ngoài nước.

Lần triển lãm này gồm 32 ảnh đen trắng, theo anh để đánh dấu 32 năm cầm máy của anh. Đã từ lâu anh được mọi người tôn vinh là “Vua phong cảnh”, nhưng lần này phong cảnh của anh mang một hình thái mới, biểu hiện mới. 

Phát biểu trong buổi khai mạc, anh cho biết anh đang thực hiện dự án về Ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Hành trình đầu tiên là Mộc. Cho nên 32 ảnh đang triển lãm, bức nào cũng có cây.

32 bức ảnh có một phong cách nhất quán mang một chủ đích nghệ thuật rõ rệt khác hẳn những cuộc triển lãm của nhiều nghệ sĩ khác trước đây ở Việt Nam.

Điều đặc biệt ở đây không phải là kỹ thuật chụp ảnh mà cách nhìn thiên nhiên mang ý nghĩa triết lý đàng sau những gốc cây, cành cây, thân cây ấy. Đó là những gốc cây đã chết, những cành cây đã khô nhưng những dấu vết của sự sống vẫn tiếp tục, vẫn tiếp nối giữa không gian hoang vắng.

Trước đây, phong cảnh trong ảnh của Hoàng Thế Nhiệm là những cảnh đẹp có địa chỉ, là những trời mây, cây cỏ, núi rừng, non nước của những địa danh nổi tiếng. Giờ đây 32 bức ảnh trong triển lãm này không xác định địa danh, bởi điều đó với tác giả là không cần thiết nữa bởi điều tác giả muốn thể hiện ở tác phẩm là những vấn đề triết lý sâu xa hơn của nhiếp ảnh hiện đại. Cũng cây, cũng đất, cũng rừng, cũng thấp thoáng cành hoa nhưng không phải những hàng cây xanh tươi, những khu rừng sum suê hay cảnh thiên nhiên đẹp theo nghĩa thông thường.

Đó là những thân cây khẳng khiu, những gốc cây chết, những nhánh cây trơ trụi, những cây nhỏ đứng một mình giữa núi đá, cát, nước và bầu trời được đặt trong không gian rất rộng khiến chúng trở nên bé nhỏ, mong manh. Và do vậy cây không còn là đối tượng mà trở thành một hình tượng mang nhiều ý nghĩa. Người xem nếu chịu khó suy nghĩ sẽ thấy cây trong ảnh như thân phận con người, có sinh thành và hủy diệt, từ diệt rồi sinh như luân hồi của kiếp người trong triết lý của Phật Giáo. Con người luôn băn khoăn về lẽ tử sinh. Tác phẩm của Nhiệm đang đề cập về nỗi băn khoăn đó.

Cây đang sống, cây đã chết khô, cây đang chống chọi và có cây chỉ còn là dấu tích. Nhưng tất cả dù đã chết vẫn chưa biến mất, nó vẫn còn tồn tại. Đàng sau cái chết là sự sống tiếp nối hồi sinh hay ngược lại sinh ra rồi để chết.

Điều này khiến người xem nghĩ rằng tác giả đang sử dụng cây như một ẩn dụ về thân phận, sự chịu đựng, sự mất mát và sức sống của con người.

Ta hãy xem bức ảnh mô tả cành cây nhỏ bên hàng rào đổ nát trên cát. Đây là một bức ảnh có ngôn ngữ tạo hình rất mạnh. Những thanh gỗ nghiêng đổ, những sợi dây thép gai và các đường gợn trên mặt cát tạo nên một hệ thống đường chéo và đường cong. Giữa cấu trúc khô cứng ấy lại xuất hiện một cành cây nhỏ có lá sáng. Ta thấy có một sự đối lập rất đẹp giữa sự sống và tàn phá, giữa mềm mại và thô ráp. Ta có thể suy nghĩ rộng hơn đến chiến tranh, đến sự cắt chia hay những giới hạn chia lìa do con người tạo ra. Có thể đó không phải là suy nghĩ của tác giả khi bấm máy nhưng bức ảnh gợi lên trong lòng người xem.

Bức ảnh nữa cũng thu hút là bức mô tả đám mây trắng lớn tạo hình khối mạnh trong ảnh. Đây là một bố cục rất tiết chế: một thân cây nhỏ mọc nghiêng bên sườn đá chơi vơi, một khối mây. Thoạt nhìn không có gì đặc biệt nhưng nhìn kỹ ta thấy cây rất nhỏ, mong manh và đám mây chiếm hết phần lớn mặt tranh. Sự tương phản về kích thước tạo nên một quan hệ thị giác thú vị đó là sự đối lập giữa cái nhỏ bé đối diện với cái mênh mông. Bức này gợi tinh thần hội họa thủy mặc phương Đông, nơi khoảng không đôi khi có sức biểu đạt mạnh hơn chính đối tượng được vẽ. Đó chính là sự tối giản của hình thể để đạt đến ý niệm.

Một bức có phong cách tối giản nữa hiệu quả thị giác rất cao ghi lại những tán cây sáng nổi bật trên nền trời tối, bên dưới là mặt nước phẳng lặng. Một khúc gỗ chết ở tiền cảnh tạo ra sự đối ứng với những cây còn sống ở phía xa. Đó là một bố cục có tính suy tưởng. Tác giả lại để một khoảng nước tối rất lớn ở nửa dưới khung hình tạo sự sâu lắng nhiều suy tư.

Bức ảnh với gốc cây chết ở tiền cảnh và cây đang xanh phía xa là một ví dụ về sinh và diệt. Gốc cây chết được đặt rất lớn, chiếm gần hết phần dưới bức ảnh. Con mắt người xem đi theo dòng đá và gỗ khô để tới thân cây đứng cô đơn ở cuối chân trời. Bố cục đó diễn tả một hành trình từ mất mát đến tồn tại.

Bàn thêm một chút về kỹ thuật ta thấy tác giả có cảm quan rất tốt về sắc độ. Những bức ảnh không chỉ đơn giản là loại bỏ màu sắc. Chúng sử dụng tương phản sáng tối để xây dựng không khí cho ảnh. Bầu trời thường có sắc xám trung gian, mây sáng mạnh, còn mặt đất, thân cây và mặt nước được đẩy xuống những vùng tối sâu. Một số ảnh có sử dụng kỹ thuật phơi sáng dài, nhất là ở mặt nước, tạo cảm giác thời gian ngưng đọng. Đặc biệt, những tán lá trắng nổi bật trên nền đen khiến liên tưởng đến hiệu quả của ảnh hồng ngoại, hoặc cách xử lý sắc độ tương tự.

Điều cần nhấn mạnh là đen trắng ở đây không chỉ là lựa chọn thẩm mỹ mà còn là một cách loại bỏ những thông tin không cần thiết để tập trung vào hình khối và cảm xúc để tạo suy niệm cho người xem.

Chủ đề của cuộc triển lãm này là LIFE OF TREES : ĐỜI SỐNG CỦA CÂY. Nói theo tác giả là MỘC. Trong triết học Ngũ hành phương Đông, Mộc không chỉ tượng trưng cho cây cối mà còn gắn với sự sinh trưởng, phát triển, vươn lên và khả năng thích ứng.

Mộc là sự sống trong quá trình vận động, chứ không chỉ là một vật thể của thiên nhiên.

Trong 32 tác phẩm trong cuộc triển lãm này đã phần nào thể hiện ý nghĩa đó.

Hoàng Thế Nhiệm không chủ yếu tìm kiếm những thân cây xanh tốt, mà dường như đặc biệt quan tâm đến cây khô, cây chết, những thân cây bị thiên nhiên bào mòn và những hình hài còn sót lại.

Nếu Mộc tượng trưng cho sự sống, thì tác giả lại thường tiếp cận sự sống từ phía bên kia của nó: sự tàn phai, mất mát và khả năng tồn tại sau những biến động.

Đây cũng là một cách diễn giải khá thú vị về Mộc.

Từ những suy nghĩ trên, không thể xếp những tác phẩm này vào loại nhiếp ảnh phong cảnh thuần túy.

Nhiếp ảnh phong cảnh thông thường thường hướng tới vẻ đẹp của địa hình, ánh sáng, thời tiết và không gian.

Ở đây, phong cảnh dường như chỉ là phương tiện để diễn đạt một tâm trạng. Tác giả không mô tả cảnh đẹp thông thường mà tìm kiếm một thế giới thị giác riêng mang khuynh hướng triết học. Cảnh vật như cái cớ để nói về sự sống, cái chết, thời gian và sự tồn tại. 

Những thân cây khô không tự kể chuyện cô độc. Những gốc cây mục không tự nói về cái chết. Chính người nghệ sĩ, bằng lựa chọn góc nhìn, ánh sáng và bố cục, đã khiến chúng mang tâm trạng của con người. Hoàng Thế Nhiệm đã làm được điều đó bằng tác phẩm của mình.

Thật ra việc tổ chức bố cục, khả năng sử dụng khoảng trống và sự tương phản sắc độ. Việc sử dụng cây cô độc, bầu trời rộng, ánh sáng tương phản và không gian tĩnh lặng cũng có sự gần gũi với mỹ học nhiếp ảnh phong cảnh đen trắng quốc tế. Trước đây những nghệ sĩ như Ansel Adams hay Michael Kenna đã sử dụng thiên nhiên và ngôn ngữ đen trắng để tạo nên những tác phẩm có sức biểu cảm rất mạnh. Tuy nhiên, ảnh của Hoàng Thế Nhiệm vẫn có sáng tạo và ý nghĩa của riêng anh.

Trong MỘC, Hoàng Thế Nhiệm không chỉ chụp những cái cây. Anh chụp những dấu vết mà thời gian để lại trên sự sống. Ở đó, cái chết không hoàn toàn đối lập với sự sống, mà trở thành một phần của chu trình sinh thành và hủy diệt.

Người xem đánh giá cao Hoàng Thế Nhiệm ở khả năng phát hiện vẻ đẹp của những đối tượng tưởng như không còn gì đáng ngắm nhìn.

Một thân cây chết, một cành khô hay một gốc mục có thể trở thành một tác phẩm nghệ thuật khi được đặt đúng trong tương quan ánh sáng, không gian và thời gian. Và từ đó ta hiểu thêm rằng, vấn đề không phải chụp cái gì mà quan trọng là bức ảnh muốn nói lên điều gì? Và những nội dung của bức ảnh có bật lên đuợc những điều ta muốn gởi gắm không? Có mang dấu ấn riêng của người sáng tác.

Chúc mừng triển lãm của Nhiệm. Chúc mừng thành công bước đầu trong dự án ngũ hành. Khó chứ không dễ. Tương sinh ngũ hành Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, và Thủy sinh Mộc. Thể hiện cho được ngũ hành và tương sinh là một dự án dài hơi và nhiều công sức. Đó là một thử thách nghệ thuật lớn. Nhưng với khả năng kỹ thuật, với tư duy sáng tạo mới, với mong mỏi thể hiện triết lý qua ảnh, tin rằng Hoàng Thế Nhiệm sẽ có nhiều thành công nối tiếp.

Sài Gòn 12.10.26

DODUYNGOC



 Hôm nay có cô học trò cách đây hơn 42 năm, trước khi bay về Việt Nam gởi cho tôi một tấm hình lúc tôi làm chủ nhiệm lớp12A6 (1983-1984). Nhìn hình cũng còn nhớ một số khuôn mặt của một thời. Giờ có lẽ gặp nhau giữa phố chắc chẳng nhận ra nhau. Mấy cô cậu đó đã tròm trèm 60 cả rồi và mình đã vào lứa cuối U80. Nhìn hình tôi còn không nhận ra tôi. Mà nghĩ cũng lạ, nhìn hình mới nhớ là học trò thời đó chẳng có mấy người mang kính cận. Sao giờ người trẻ kể cả trẻ con bị cận thị nhiều quá?

Thời gian mau thật! Biết bao biến cố, biết bao đổi thay. Nhớ một thời dù nghèo mà vui. Hồi đấy học sinh chẳng áo dài, không đồng phục, sống đơn giản mà nhiều tình. Cơm ăn không đủ no, chỉ bo bo với bột mì cần chi áo quần cho đẹp. Thầy Cô giáo phần đông đi xe đạp, dạy trên lầu mà nghe nhu yếu phẩm về là lòng nôn nao. Trang phục Thầy giáo cũng giản dị, áo chemise quần tây, chẳng cà vạt, giày da trang trọng như bây giờ. Nay nhà trường sao màu mè, cờ quạt quá. Sang thì có vẻ sang nhưng không thấy hay.

 


Chiều Sài Gòn mưa. Mưa khá lớn, tự nhiên thèm một tô cháo lòng nóng hổi. Thèm thì đi ngay thôi, Bác sĩ bảo lớn tuổi rồi, thích gì thì cứ ăn, không nên kiêng quá và cũng đừng ăn nhiều, đừng ăn thường xuyên là được. Dù quán không xa nhà lắm nhưng cũng gọi taxi, mưa quá xá mà. Ngồi trên xe nhìn qua kiếng thấy cảnh vật, con người nhoè dưới mưa.

Đến nơi, chỉ băng qua lề đường vào quán đã thấy người ướt và lành lạnh. Thế này mà húp muỗng cháo nóng thì còn gì bằng. Nghĩ vậy mà lại không phải vậy. Cháo rất nóng, dĩa gan và dồi chiên nhìn cũng hấp dẫn nhưng sao ăn vào thấy nhạt nhẽo quá. Không dám gọi sụn họng với phèo vì răng không nhai được. Cháo cũng nhạt mà lòng cũng chẳng ngon. Dồi chiên không vàng, ruột dồi cứng không béo. Còn đâu miếng dồi chiên ngày xưa, còn đâu miếng gan bùi bùi ngày cũ. Hay là tại miệng mình không còn cảm được vị ngon? Cô chủ ngày trước không thấy, mấy cậu giúp việc cũng lạ hoắc. Chắc đổi chủ rồi, tên vẫn còn đó nhưng chất lượng, mùi vị đã khác. Người mới không kế thừa được. Rất nhiều quán ăn như thế dù tồn tại qua mấy đời và bảy tám chục năm có mặt.

Thường thì tôi không thích ăn huyết, nhưng hôm nay ăn thử. Miếng huyết mềm, bở trong khoang miệng. Cũng không ngon.

Chấp nhận cơn mưa để mong ăn được tô cháo lòng một thời mà thất vọng quá. Đường đông nghẹt xe, quán lại vắng. Chờ taxi hơn nửa tiếng, tài xế đến nơi lại giục ra mau vì sợ công an phạt. Ăn không ngon mà lòng cũng chẳng vui. Nhớ trong cuốn sách Ăn mà không chơi in cách đây 4 năm, có viết về món cháo lòng. Sao hồi đó ăn thấy ngon thế?

6.10.26

DODUYNGOC

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget