Đỗ Duy Ngọc

Latest Post




 

Lại mưa trưa. Sài Gòn tháng 10 mưa tầm tã. Những con đường ngập nước lênh láng, những con người lướt thướt dưới mưa. Đã có tuổi, không còn thú lang thang dầm mưa, không còn dám ra đường để ghé một hàng hiên nào đó đốt thuốc nhìn mưa. Lại nhớ buổi trưa hôm nào của tuổi hai mươi cách đây hơn năm mươi năm bên cửa sổ căn gác trọ với nụ hôn đầu của một cuộc tình. Tất cả đang qua đi và một mình đang ở lại. Không đi đâu nên để cho hết một ngày đành nằm nhà xem phim và nghe mưa trên mái hiên.

Tìm thấy một phim cũ đã xem cách đây hơn mười năm, giờ xem lại trên YouTube lại vỡ ra nhiều suy nghĩ khác. 

Đó là phim Perfume: The Story of a Murderer . Được dịch là Mùi hương: Câu chuyện về một kẻ sát nhân. Hay gọi tắt là Mùi hương (Perfume). Đây là một bộ phim rất đặc biệt, một phim nhiều ấn tượng và nhiều cảm xúc, dù đã xem nhiều năm rồi vẫn tràn ngập cảm giác ám ảnh của nó.

Là một phim với nội dung kỳ lạ, không giống các kịch bản phim thông thường. Được chuyển thể từ tiểu thuyết nổi tiếng Das Parfum (Perfume) xuất bản năm 1985 của nhà văn Đức Patrick Süskind. Nội dung phim rất khó để chuyển thành phim ảnh vì nhân vật chính và toàn bộ xoay quanh mùi hương, thứ chỉ cảm nhận bằng khứu giác, không dễ để biến thành hình ảnh để có thể chuyển đến khán giả. Nhưng đạo diễn người Đức Tom Tykwer đã làm được và thực hiện rất thành công tạo được cảm xúc đến người xem. Phim ra đời với sự hợp tác của ba nước Đức, Pháp, Tây Ban Nha, ra mắt năm 2006. Phim nói tiếng Anh và dài khoảng 147 phút. 

Nhân vật chính Jean-Baptiste Grenouille do Ben Whishaw đóng. Là nhân vật khác người, gầy gò, ít nói, ngây ngô và luôn lạnh nhạt tách biệt với mọi người. Dustin Hoffman diễn viên gạo cội trong vai Giuseppe Baldini: nhà chế tạo nước hoa, cũng là người phát hiện khả năng thiên phú, kỳ lạ của Grenouille. Ngoài ra còn có Alan Rickman trong vai Antoine Richis và Rachel Hurd-Wood trong vai Laura Richis. 

Câu chuyện diễn ra ở nước Pháp thế kỷ XVIII. Nhân vật Jean-Baptiste Grenouille sinh ra và lớn lên trong sình lầy, dưới đáy xã hội, một khu hôi thối tanh tưởi của khu chợ cá. Anh ta có khả năng đặc biệt là khứu giác nhạy bén trước những mùi hương. Grenouille có thể nhận ra mùi hương mà không ai có thể nhận biết. Lúc mới lớn, anh tình cờ ngửi được mùi hương của cô gái trẻ bán hàng rong trái cây. Anh nhận ra đó là mùi hương tuyệt nhất anh từng ngửi qua. Grenouille vô tình khiến cho cô gái thiệt mạng. Anh lại phát hiện mùi hương tuyệt diệu đó sẽ biến mất khỏi cơ thể khi người ấy qua đời. Phát hiện đó hình thành nỗi ám ảnh quyết định cả cuộc đời Grenouille là làm sao giữ lại một mùi hương mãi mãi?

Lúc ấy, Baldini là một nhà chế tạo nước hoa nổi tiếng, bằng khả năng về mùi hương của mình, Grenouille được nhận vào xưởng làm việc và ở đó anh chứng minh mình là thiên tài khi chế ra nhiều loại nước hoa mà trước đó chưa ai làm được. Đến lúc đó, anh ta nhớ lại mùi hương của cô gái bán trái cây và anh muốn chiết xuất và lưu giữ mùi hương của con người, đặc biệt là hương thơm của những cô gái trẻ. Với tham vọng đó, Grenouille trở thành kẻ sát nhân hàng loạt. Nhiều cô trẻ đã trở thành nạn nhân của anh để anh có thể thu giữ mùi hương của họ biến thành một loại nước hoa đặc biệt chưa từng có. Và vùng Grasse trở thành hỗn loạn khi nhiều cô gái lần lượt biến mất. Trong vùng có một cô gái rất xinh đẹp tên là Laura, con gái của Antoine Richis, một người giàu có. Ông ta lo sợ có ngày sẽ đến lượt con mình nên đem con đi trốn. Nhưng Laura lúc này là đối tượng tiếp theo của Grenouille cho nên bằng khứu giác tinh nhạy của mình anh theo dõi và bắt được Laura. Với Laura, anh ta đã chế hoàn thành một loại nước hoa kỳ lạ , anh toại nguyện vì đã đạt được khát vọng.

Nhưng người ta đã phát hiện anh là thủ phạm giết người. Anh bị bắt, bị kết án và đưa ra pháp trường xử tử.

Khi Grenouille bị đưa ra pháp trường trước một đám đông đang căm phẫn và chờ xem anh bị hành hình. Grenouille hiện lên nhỏ bé, gầy gò, gần như bất lực giữa biển người đang gào thét đòi giết mình. Thế rồi anh vẩy những giọt nước hoa, thứ nước hoa yêu thương và tha thứ. Mùi hương đó đã khiến thái độ của cả đám đông thay đổi hoàn toàn. Họ không còn nhìn thấy một tên sát nhân. Họ nhìn Grenouille như một sinh vật tuyệt đẹp, đáng yêu, gần như thiêng liêng. Cơn căm thù tập thể biến thành một trạng thái mê đắm và yêu thương cuồng nhiệt. Đây là một trong những trường đoạn kỳ lạ và nổi tiếng nhất của phim. Đó cũng là một bi kịch Grenouille đã tạo được thứ có thể khiến mọi người yêu mình, nhưng chính anh ta lại không có khả năng yêu một con người. 

Grenouille được tha và trở về Paris, nơi anh đã được sinh ra. Anh đổ toàn bộ phần nước hoa còn lại lên cơ thể. Những người xung quanh bị mùi hương mê hoặc đến mức lao vào anh trong một cơn cuồng loạn và Grenouille biến mất khỏi thế giới theo một cách vừa khủng khiếp vừa ghê rợn. Đó là một kết cuộc buồn.

Phải công nhận tài năng của 

đạo diễn Tom Tykwer, ông phải kể một câu chuyện về mùi hương, một thứ chỉ cảm nhận được bằng mũi trong khi điện ảnh chỉ có ánh sáng, hình ảnh và âm thanh. Nhưng qua cách kể và diễn xuất của diễn viên, khán giả vẫn cảm được mùi của chợ cá, của da thịt và đặc biệt mùi của nước hoa.

Xem xong phim, bỗng dưng tôi liên tưởng đến những bộ phim của đạo diễn người Hàn Quốc: Kim Ki-Duk. Thật ra hai người này có rất nhiều khác biệt. Một người ở phương Tây và một người ở trời Đông. Quan niệm cũng khác nhau. Nhưng cả hai đều có khả năng tạo ra những bộ phim mà câu chuyện không đi theo lối thông thường và hình ảnh tiếp tục ám ảnh người xem sau khi phim đã hết.

Kim Ki-Duk là một trường hợp rất đặc biệt của điện ảnh Hàn Quốc. Tuy thế, người xem phim ở nước ông rất ít người biết đến ông dù ông đạt nhiều giải quốc tế như phim Samaritan Girl đem về giải Đạo diễn tại Berlin; 3-Iron đem về giải Đạo diễn tại Venice; và Pietà đoạt Sư tử vàng Venice 2012. Phim của ông phần lớn là rất dữ dội, gây tranh cãi, không phải loại điện ảnh đại chúng. Cũng giống thị trường phim ảnh ở Việt Nam, rất nhiều phim chọc cười rẻ tiền, kịch bản hời hợt, đạo diễn non tay nhưng thường thắng lớn và được giới xem phim bình dân tán thưởng. Trong khi đó những đạo diễn làm phim sâu sắc, tài năng, đạt nhiều giải thưởng nước ngoài thì chẳng mấy người biết đến và khi đem chiếu ở thị trường thường lỗ trắng tay, xuất chiếu vắng tanh.

Kim Ki-Duk được đào tạo để trở thành hoạ sĩ, ông từng học mỹ thuật tại Montpellier (Pháp). Nhưng khi về nước, ông chọn làm nghề đạo diễn. Trong đại dịch Covid toàn cầu, ông qua đời tại Riga, Latvia khi mới 59 tuổi, do biến chứng của COVID-19. 

Ông làm khoảng 25 phim, trong đó có 10 phim đáng xem nhất: Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring (2003), Xuân, Hạ, Thu, Đông… rồi lại Xuân. 3-Iron (2004), Căn nhà trống. Pietà (2012). The Isle (2000), Hòn đảo. Samaritan Girl (2004) Cô gái Samaritan. Bad Guy (2001), Gã tồi. The Bow (2005), Cây cung. Breath (2007)Hơi thở. Address Unknown (2001) Địa chỉ không xác định. Arirang (2011).

Trong danh sách này có 3 phim Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring thể hiện phía thiền định, nhân quả và chu kỳ đời người, 3-Iron thể hiện tài kể chuyện bằng im lặng và hình ảnh, còn Pietà là sự tàn nhẫn, tội lỗi, tình mẫu tử và chuộc tội của thế giới Kim Ki-duk.

Tôi xem phim Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring rất nhiều lần và nghĩ rằng phim rất đáng xem nếu ai quan tâm đến Phật giáo và thiền.

Cho đến giờ sau 23 năm bộ phim ra đời, theo tôi Phim Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring là tác phẩm cô đọng rõ nhất thế giới điện ảnh của Kim Ki-duk. Bối cảnh chỉ có một ngôi chùa nhỏ bé nổi giữa hồ, khung cảnh tuyệt đẹp qua bốn mùa của đất trời, một nhà sư già, một chú tiểu và bốn mùa tuần hoàn. Hạn chế lời thoại, nhưng cả một đời người được kể qua xuân, hạ, thu, đông rồi lại xuân. Qua tiến trình của bộ phim, con người cứ tưởng mình đang đi về phía trước, nhưng nhiều khi lại quay về đúng nơi mình đã bắt đầu. Từ một chú tiểu vô tư, hồn nhiên làm chuyện ác tiến dần vì dục vọng, tình yêu, chiếm hữu, tội lỗi, trừng phạt, tu tập và cuối cùng một thế hệ khác tiếp tục tuần hoàn như bốn mùa của trời đất. Trong khi đó, cái hồ vẫn vậy, ngôi chùa vẫn vậy, chỉ con người sinh ra, phạm lỗi, đau khổ rồi tan biến để một thế hệ khác tiếp nối, luân hồi.

Xem Xuân, Hạ, Thu, Đông… rồi Xuân tôi nghĩ phim không chỉ kể lại cốt truyện, mà có thể đi từng mùa để giải mã những biểu tượng rất đẹp: con cá, con ếch, con rắn, hòn đá buộc vào người, cánh cửa không có tường, chiếc thuyền, mặt hồ và pho tượng Phật trên đỉnh núi. Khi đọc những biểu tượng ấy theo tinh thần Phật giáo, bộ phim sâu hơn rất nhiều so với câu chuyện nhìn thấy trên màn ảnh.

Tuy Perfume và phim của Kim Ki-Duk không giống nhau về phong cách, nhưng chúng có một điểm gặp nhau khá thú vị, đó là đều khiến người xem bước vào một thế giới có logic riêng, hơi xa lạ với cách kể chuyện điện ảnh thông thường.

Với Kim Ki-Duk, những quan điểm của Phật giáo như nghiệp, dục vọng, vô thanh, sự cô đơn , chu kỳ sinh diệt được trình bày chúng theo một cách rất khác. Nhân vật ít nói, đôi khi gần như không nói, hành động có lúc cực đoan, nhiều tình tiết không được giải thích mà chỉ được đặt trước mắt người xem như một biểu tượng. Khi xem phim ta có cảm giác đang xem một câu chuyện rất Thiền nhưng cách Kim Ki-Duk kể lại không giống phim Phật giáo hay phim luân lý quen thuộc. Ông không giảng rằng đây là nghiệp, đây là tham ái, đây là quả báo. Ông chỉ cho đứa trẻ buộc đá vào cá, ếch và rắn; rồi vị sư già buộc một hòn đá vào lưng nó. Không cần diễn giải dài dòng, người xem tự cảm thấy sức nặng của hành động mình gây ra cho một sinh vật khác.

Một biểu tượng nữa cũng mang phong cách của Kim Ki-Duk là cánh cửa trong ngôi chùa nhưng hai bên cửa lại không có tường. Về vật lý, người ta hoàn toàn có thể bước vòng qua. Nhưng các nhân vật vẫn đi qua cửa. Một vật rất đơn giản bỗng trở thành hình ảnh gợi suy nghĩ về giới hạn, kỷ luật và những cánh cửa do chính con người đặt ra trong tâm thức.

Liên tưởng của tôi từ Perfume sang Kim Ki-Duk, theo tôi đó là sự liên tưởng rất tự nhiên. Tom Tykwer làm cho chúng ta cảm thấy một mùi hương mà màn ảnh không thể truyền tải. Kim Ki-Duk lại khiến chúng ta nghe thấy những điều sâu xa mà nhân vật không cần phải nói.

Có lẽ đó là phẩm chất chung của những bộ phim lạ mà hay. Sau khi câu chuyện kết thúc, bộ phim vẫn chưa kết thúc trong đầu người xem.

Sài Gòn vẫn mãi mưa. Một ngày lại sắp trôi qua. Một ngày sẽ không bao giờ lặp lại nữa, nhưng những bộ phim hay vẫn còn đó. Mãi mãi.


Saigon. 

Chủ nhật 4.10.2026

DODUYNGOC






Trước năm 1975 và hơn chục năm sau đó, các rạp chiếu phim ở miền Nam đều có người chuyên vẽ panneau để giới thiệu phim đang chiếu. Riêng ở Sài Gòn trước 1975, theo thống kê chưa đầy đủ đã có khoảng 75 rạp chiếu phim. Ngoài những rạp lớn như Rex, Eden, Quốc Tế, Lê Lợi, Vĩnh Lợi, Khải Hoàn, Thăng Long hay những rạp ở Đakao, Bà Chiểu, Chợ Lớn… thuê riêng người vẽ, các rạp nhỏ hơn thuê từng phim một, hoặc hợp đồng với người vẽ vẽ thêm cho rạp mình.

Vẽ panneau cho phim không phải ai biết vẽ là vẽ được. Đó là một loại hội họa đặc biệt, từ quen tay, qua quá trình rèn luyện mà thành chứ không có trường lớp nào dạy cả. Hồi mới vào Sài Gòn những năm đầu 70 của thế kỷ trước. Đời sống khó khăn của một thanh niên không có ai trợ cấp, phải kiếm việc vừa làm vừa đi học. Cứ nghĩ bản thân cũng có thời gian học mỹ thuật, vẽ panneau chắc cũng không khó nên xin vào rạp vẽ panneau phim. Đó là thất bại đầu đời của tôi. Lâu nay quen với khung bố nhỏ, cọ nhỏ, sơn dầu, màu nước. Giờ đứng trước khung vải rộng mấy thước, cây cọ nào cũng to đùng. Có cái như cái chổi, cái nhỏ nhất cũng lớn hơn cả bàn tay. Chất liệu là bột màu với a dao hôi kinh khủng. Lúc đấy mới thấy mình bất tài. Trong khi người thợ chính vung cọ vun vút, tôi chỉ biết đứng ngó. 

Không phải cứ học qua mỹ thuật, biết hình họa, biết vẽ chân dung, biết chọn lựa màu sắc là có thể vẽ được. Vẽ tranh, người hoạ sĩ có nhiều thời gian suy tưởng, định hình phong cách cho tác phẩm. Vẽ panneau xi nê khác hoàn toàn, bề mặt tranh lớn, đường cọ phải nhanh nhưng bắt buộc phải giống nhân vật. Thần sắc, bố cục, màu mè phải tác động đến thị giác của người qua đường. Trên diện tích khổng lồ, chỉ cần sai một chút về tỷ lệ, khuôn mặt quen thuộc của một minh tinh có thể trở thành một người hoàn toàn khác. Và như thế panneau đó thất bại.

Vẽ tranh đường nét tỉ mỉ, nét cọ tinh tế. Panneau là vẽ từng mảng, người vẽ chỉ phác sơ nét chính, sau đó là múa cọ. Đứng gần chỉ thấy khối, bệt màu lẫn lộn, nhưng nhìn từ xa chân dung khuôn mặt tài tử hiện rõ với những đặc điểm không lẫn vào đâu được. Panneau xi nê đứng ở khoảng giữa hội họa chân dung, minh họa, quảng cáo và nghệ thuật sân khấu.

Và tôi đã thất bại khi vừa bước vào nghề. Sau đó, nhờ hiền lành, dễ thương, chịu khó học hỏi, thấy rõ hạn chế của mình, các tiền bối cho phép tôi kẻ chữ vì tôi viết chữ khá đẹp he…he. Những năm cuối thập niên 90, Sở Văn Hoá kết hợp với Nhà Nghệ thuật Quần chúng TP, chiếu video bán vé. Hồi đó màn hình 100 inches mà người ta chen nhau mua vé đông nghẹt xem Võ Tắc Thiên và Bao Công. Tôi lại làm công việc giới thiệu phim nhưng không vẽ mà chỉ viết tên phim. Cũng một loại panneau nhưng chẳng có chút nghệ thuật nào. Cũng a dao, bột màu như xưa nhưng không vẽ hình. Kiếm tiền nuôi vợ con trong thời buổi khó khăn thôi.

Hồi bé ở Đà Nẵng, tôi cũng mê xem phim. Nhưng thú thật các rạp ở Đà Nẵng không có người vẽ đẹp. Những rạp Lido, Kinh Đô và nhiều rạp khác nữa ở thành phố đó không gây cho tôi chút ấn tượng nào.

Có thời ra Huế học. Huế thời đó có mấy rạp chiếu phim: Rạp Châu Tinh trên đường Chi Lăng (Khu vực Gia Hội). Rạp Hoàn Mỹ cũng nằm trên đường Chi Lăng. Rạp Hưng Đạo lớn với chỗ ngồi rộng rãi và đẹp. Rạp Tân Tân trước mặt chợ Đông Ba. Trước đó còn rạp Z96 và rạp Morin. Và còn mấy rạp nhỏ nữa quên mất tiêu rồi. Ở rạp Châu Tinh có anh Lê Vinh vẽ rất đẹp, nhân vật rất có thần thái mà màu sắc cũng rất bắt mắt.

Thời thanh niên, nhiều diễn viên, tài tử nổi tiếng đóng phim được chiếu ở các rạp miền Nam. Tôi mê mẩn trước những panneau vẽ họ đến nhập tâm những đường nét, đặc điểm của từng nhân vật. Đó là Paul Newman với đôi mắt xanh. Gregory Peck điềm đạm. Yul Brynner cái đầu cạo trọc không thể lẫn với ai. Steve McQueen lạnh lùng. Anthony Quinn thô ráp, dữ dội mà đầy sức sống. Omar Sharif với ánh mắt buồn của Doctor Zhivago. Rồi Alain Delon, một vẻ đẹp gần như hoàn hảo nhưng nhìn hơi nữ tính. Còn có Charles Bronson: nhân vật rất đàn ông. Ông không đẹp theo cách Alain Delon. Khuôn mặt ông gân guốc, xương xẩu. Đôi mắt nhỏ, ít cười. Ông có vẻ như chẳng cần nói gì nhiều nhưng hành động diễn xuất của ông thu phục trái tim người thanh niên có mộng giang hồ.

Trong The Magnificent Seven, người Sài Gòn quen gọi Bảy tay súng oai hùng, Bronson đứng bên cạnh một dàn tài tử mà chỉ cần kể tên cũng đủ làm sống lại cả một thời: Yul Brynner, Steve McQueen, James Coburn, Robert Vaughn, Horst Buchhol, đến những phim hài của Louis de Funès, Anthony Quinn và “Giờ thứ 25” rổi Ryan O’Neal và Ali MacGraw trong phim Love Story. Những diễn viên Pháp như Jean Gabin, Jean Marais, Bourvil, Jean-Paul Belmondo, Alain Delon, Brigitte Bardot, Jeanne Moreau, Catherine Deneuve, Romy Schneider…

Và đặc biệt Once Upon a Time in the West.Trong bộ phim ấy lại có Charles Bronson. Đó là người đàn ông lạnh lùng bí ẩn với cây kèn harmonica. Đã hơn 60 năm rồi, trong tôi tiếng kèn đó vẫn còn vang trong ký ức và hình Charles Bronson trên tấm panneau vẫn còn mãi trong mắt.

Đến khi phim võ hiệp Hồng Kông, Đài Loan tràn ngập các rạp. Những tên tuổi mới của Châu Á xuất hiện, đó là Vương Vũ. Trịnh Phối Phối. Khương Đại Vệ. Địch Long. Nhạc Hoa. La Liệt…Loại phim này hấp dẫn người xem. Không còn súng nổ, ngựa phi, không còn những mối tình lãng mạn. Những phim của hãng Shaw Brothers đưa người xem vào một thế giới của ân oán, môn phái, huynh đệ, báo thù, những quán rượu ven đường và những kiếm khách cô độc. 

Và Lý Tiểu Long. Võ thuật trên phim thay đổi. Panneau giới thiệu phim cũng thay đổi. Thay vì súng là gươm đao, thay vì ngựa phi là phi thân, vũ khi là quyền cước, là chưởng, là thế đòn. Panneau thay đổi trang phục và nét mặt nhân vật. Người vẽ panneau cũng theo trào lưu.

Rồi thời thế đổi thay, những panneau vẽ tay dần dần biến mất nhường chỗ cho những poster in bằng kỹ thuật số. Dĩ vãng trôi đi, ký ức tồn đọng một thời của những panneau xi nê nặng mùi a dao trên khung bố chồng nhiều lớp sơn. Nhớ lại những panneau thời ấy như một triển lãm hội hoạ ngoài trời được thay đổi theo từng bộ phim. Tôi nghĩ đó cũng là một loại hình nghệ thuật. Tuy không lớn lao, tác giả cũng không ký tên, không lưu giữ. Hết phim người ta dùng bàn chải chùi rửa và vẽ nội dung một phim mới. Tác phẩm được xoá đi, người tạo ra nó cũng bị lãng quên.

Không có ai nghĩ những panneau quảng cáo phim lại là những di sản một thời. Đến khi những tấm quảng cáo phim vẽ tay ấy không còn nữa chúng ta mới tiếc nuối một loại hình mỹ thuật đường phố đã biến mất.

Nhưng ở Ấn Độ, vẫn còn những người giữ nghề vẽ panneau xi nê. Họ không vẽ cho rạp chiếu phim, họ hình thành một thị trường chuyên phục hồi vẽ affiche, panneau bằng tay, thường là những phim của Bollywood ngày xưa. Họ vẽ và bán cho người sưu tập, những người tìm lại cảm giác điện ảnh xưa. Giá cũng không hề rẻ.

Tiêu biểu là họa sĩ Kafeel Ahmed Ansari, ông đã hơn tuổi 70, ở khu Old Delhi. The Indian Express vừa có bài tháng 6. 2026 về ông, gọi ông là một trong những người đang gìn giữ nghề vẽ Bollywood hoarding và poster bằng tay khi kỹ thuật in kỹ thuật số đã khiến cả một thế hệ họa sĩ loại này gần như mất nghề. Ông vẫn vẽ bằng tay, theo phương pháp của những người thợ quảng cáo cinéma ngày trước. Ông cũng nhận đặt hàng theo phim xưa và cũng có thể vẽ chân dung người đặt hàng trong bối cảnh của những phim cũ. Và cũng theo báo, ông làm ăn có vẻ khấm khá. Ở Mumbai cũng có Indian Hippy⁠, thành lập từ năm 2009 với mục đích tập hợp một số họa sĩ vẽ panneau phim. Và đã có hàng ngàn đơn đặt hàng. Rất tiếc ở Việt Nam ta không có loại hình đó để nhiều người nhớ lại một thời đã qua đi không trở lại.

Hôm nay Sài Gòn mưa. Mưa cả tuần nay. Nước ngập lênh láng mọi ngả đường. Có một lão già U80 ngồi xem phim trên Netflix, trên YouTube. Xem đến phim của mấy anh Tàu làm bằng công nghệ AI. Chợt nhớ những phim cũ cách đây mấy chục năm. Nhớ đến ngày thất bại khi bắt đầu xin vào vẽ panneau. Nhớ rất nhiều diễn viên tài danh của một thời không còn nữa, nhớ những người thợ vẽ dạy những nhát cọ đầu tiên trên khung vải rộng mênh mông. Thời gian đi nhanh quá! Nhớ lúc tóc còn xanh vụng về với đống bột màu, nhớ những đêm thức trắng học vẽ với những người nghệ sĩ vô danh. Đa số họ đều nghèo với đàn con. Mong sẽ gặp lại ở đâu đó dấu vết của người xưa, tàn tích còn sót lại tấm panneau của một thời. Tất cả chỉ là ký ức.

Saigon. 2.10.2026

DODUYNGOC

Tình Ca Trong Thơ Đỗ Duy Ngọc

MỘT CUỘC RONG CHƠI – PHẦN 2

TÌNH CA TRONG THƠ ĐỖ DUY NGỌC

Một người đi qua những mùa nhớ

LỜI GIỚI THIỆU

Đây không phải là một chương trình kể về một cuộc tình cụ thể.
Đây là câu chuyện của một người đàn ông đã đi qua nhiều năm tháng, một ngày chợt ngoảnh lại và nhận ra:
Có những người tưởng đã quên.
Có những mùa tưởng đã qua.
Có những thành phố tưởng chỉ còn là địa danh.
Nhưng tất cả vẫn nằm đâu đó trong ký ức.

Sáu ca khúc là sáu lát cắt của một câu chuyện.
Không nhất thiết phải có một kết thúc có hậu.
Bởi có những tình yêu đẹp chính vì chúng đã trở thành ký ức.

❧ ❦ ☙
MỞ ĐẦU: “CÓ NHỮNG NGƯỜI…”

Có những người đi qua đời ta rất lâu rồi.
Lâu đến mức chúng ta tưởng rằng mình đã quên.
Có những con đường đã nhiều lần thay đổi.
Có những thành phố không còn giống ngày xưa.
Có những địa danh chỉ còn lại trong trí nhớ.

Nhưng kỳ lạ thay…
Chỉ cần một lần trở lại,
một con đường cũ,
một dòng sông,
một góc phố,
một mùa nào đó…
cũng đủ làm một người đã ngủ yên trong ký ức bỗng thức dậy.

Có lẽ tình yêu là như vậy.
Nó không nhất thiết phải còn ở bên cạnh ta.
Đôi khi nó chỉ cần còn ở trong ký ức.
Và đêm nay, chúng ta thử đi tìm một người như thế.
Không biết người ấy đang ở đâu.
Không biết còn nhớ hay đã quên.
Chỉ biết rằng…
có một người đã trở về.
Và câu hỏi đầu tiên anh muốn hỏi là:
“O ở mô rồi?”

1. O Ở MÔ RỒI?
❧ ❦ ☙
TỪ HUẾ ĐẾN SÀI GÒN

Có những người không tìm thấy nhau.
Nhưng những nơi từng có họ thì vẫn còn.
Một con đường.
Một dòng sông.
Một cây cầu.
Một góc phố.
Một thành phố.

Ta đi qua những nơi ấy, và tưởng rằng mình chỉ đang đi qua một địa danh.
Nhưng thật ra…
ta đang đi qua ký ức.

Có lẽ mỗi người trong chúng ta đều có một thành phố như thế.
Một nơi chỉ cần nghe tên…
lòng đã chùng xuống.
Với người này có thể là Huế.
Với người khác có thể là Hà Nội.
Hay một miền quê rất xa.
Còn với chúng ta, có lẽ đó là Sài Gòn.

Sài Gòn của những ngày còn trẻ.
Sài Gòn của những cuộc gặp.
Sài Gòn của một người đã từng đứng đâu đó trong đời mình.
Và có lẽ…
Sài Gòn cũng có mùa đông.

2. PHỐ SÀI GÒN CŨNG CÓ MÙA ĐÔNG
❧ ❦ ☙
KHI KÝ ỨC TRỞ THÀNH MỘT BÀI THƠ

Có những tình yêu không kết thúc bằng một lời chia tay.
Nó chỉ lặng lẽ rời khỏi đời nhau.
Mỗi người đi một hướng.

Rồi năm tháng trôi qua.
Mười năm…
Hai mươi năm…
Ba mươi năm…
Ta sống những cuộc đời khác.
Có những niềm vui khác.
Những nỗi buồn khác.
Những người mới bước vào cuộc đời.

Nhưng ở một góc rất sâu trong lòng mình,
vẫn có một câu chuyện chưa bao giờ thật sự kết thúc.
Một câu chuyện cũ.
Một người cũ.
Một tình yêu cũ.
Và có lẽ, sau nhiều năm,
người ta mới đủ bình thản để gọi nó bằng cái tên giản dị nhất:
một bài thơ tình cũ.

3. BÀI THƠ TÌNH CŨ
❧ ❦ ☙
CÓ NHỮNG NỖI BUỒN KHÔNG AI NHÌN THẤY

Ba mươi năm…
Đủ dài để tóc thay màu.
Đủ dài để những người từng rất quen trở thành xa lạ.
Đủ dài để người ta học được cách sống bình thản với những điều đã mất.

Nhưng có một điều con người không giỏi lắm:
Đó là nói thật với chính mình.
Có những lúc ta vẫn nhớ.
Nhưng lại bảo rằng không nhớ.
Vẫn buồn.
Nhưng lại mỉm cười.
Vẫn muốn biết người ấy sống thế nào.
Nhưng lại tự nhủ rằng chẳng còn quan tâm.

Và rồi có một câu nói rất quen thuộc được thốt ra…
nhẹ như không:
“Anh chẳng buồn đâu.”

4. ANH CHẲNG BUỒN ĐÂU
❧ ❦ ☙
CÂU HỎI KHÔNG CÓ CÂU TRẢ LỜI

Có lẽ nếu thật sự không buồn,
người ta đã không cần phải nói rằng mình chẳng buồn.
Có những câu nói càng nhẹ…
thì phía sau nó càng nhiều điều chưa nói.

Nhưng rồi một lúc nào đó,
con người không còn muốn giấu nữa.
Không muốn tự thuyết phục mình nữa.
Không muốn nói rằng mọi chuyện đã qua.
Chỉ còn một câu hỏi.
Một câu hỏi rất đơn giản.
Nhưng có lẽ là câu hỏi khó nhất mà một người có thể hỏi người mình từng yêu:

Nếu chúng ta đã xa nhau lâu như vậy…
Nếu những năm tháng ấy đã đi qua…
Nếu em đã có một cuộc đời khác…
thì…
em có còn nhớ anh không?

5. XA NHAU RỒI EM CÓ NHỚ ANH KHÔNG
❧ ❦ ☙
TRỞ LẠI

Có những câu hỏi không bao giờ có câu trả lời.
Và có lẽ…
đến một lúc nào đó, ta cũng không còn cần câu trả lời nữa.
Bởi điều quan trọng không còn là người ấy có nhớ mình hay không.

Điều quan trọng là:
Ta đã từng yêu.
Đã từng có một người khiến tuổi trẻ của mình trở nên đẹp hơn.
Đã từng có những ngày mà chỉ cần một ánh mắt cũng đủ làm lòng vui.
Đã từng có một câu chuyện mà nhiều năm sau, khi nhớ lại, ta vẫn mỉm cười.
Thế là đủ.

Rồi một ngày…
ta trở lại.
Không phải để tìm một người.
Không phải để níu một tình yêu.
Không phải để đòi lại những năm tháng đã mất.

Ta trở lại…
để nhìn lại chính mình.
Nhìn người đã từng là mình của ngày xưa.
Nhìn những con đường đã đổi thay.
Nhìn những người đã đi xa.
Và bình thản nhận ra:
Có những thứ trong đời không thuộc về hiện tại.
Nhưng chúng vẫn xứng đáng được nhớ.
Bởi chính những điều ấy đã làm nên con người chúng ta hôm nay.

Và có lẽ…
sau tất cả,
trở lại không phải là quay về quá khứ.
Mà là trở về với chính mình.

6. TRỞ LẠI
❧ ❦ ☙
LỜI KẾT

“MỘT NGƯỜI, MỘT CUỘC TÌNH, MỘT KHOẢNG ĐỜI”

Có lẽ tình yêu đẹp nhất…
không phải là tình yêu ở lại mãi mãi.
Mà là một tình yêu,
dù đã đi qua,
vẫn khiến ta trở thành một con người tốt hơn.

Sáu bài hát vừa rồi có thể là câu chuyện của một người.
Nhưng cũng có thể là câu chuyện của rất nhiều người.
Một người đã từng yêu.
Một người đã từng chờ.
Một người đã từng chia xa.
Một người đã từng quay lại.
Và một người cuối cùng hiểu rằng:
Không phải tất cả những gì mất đi đều là mất mát.

Có những thứ mất đi… để trở thành ký ức.
Có những người rời khỏi cuộc đời… để ở lại trong một góc rất riêng của tâm hồn.
Có những mùa đã qua… nhưng chỉ cần một giai điệu vang lên, ta lại thấy mình của ngày ấy.

Có lẽ đó cũng là điều kỳ diệu của thơ.
Và của âm nhạc.
Một câu thơ có thể nằm yên trên trang giấy nhiều năm.
Nhưng khi được cất lên thành một giai điệu,
nó lại có thể đánh thức một người mà ta tưởng mình đã quên.

Đêm nay, chúng ta không tìm câu trả lời cho những chuyện tình cũ.
Chúng ta chỉ ngồi lại một chút…
nghe những giai điệu ấy…
và để mỗi người tự nhớ về một người của riêng mình.
Có thể là một người đang ở bên cạnh.
Có thể là một người đã rất xa.
Hoặc có thể… chỉ còn lại trong ký ức.

Nhưng dù ở đâu, xin hãy cảm ơn họ.
Bởi đã từng xuất hiện trong cuộc đời chúng ta.
Đã từng làm cho một đoạn đời trở nên đẹp hơn.
Và đã từng để lại một câu chuyện…
mà nhiều năm sau, ta vẫn muốn kể lại bằng âm nhạc.

Xin cảm ơn quý vị đã cùng chúng tôi đi qua một mùa nhớ.
Và nếu đêm nay,
trong một giai điệu nào đó,
quý vị chợt nhớ đến một người…
thì có lẽ…
người ấy cũng chưa bao giờ thật sự rời khỏi câu chuyện của quý vị.


```

```

Đến hôm nay là tròn đúng một tháng tui ở ẩn. Ở ẩn quanh quẩn trên chiếc giường vì bị cứng cơ lưng chứ không phải ẩn tu. Bởi tui không có căn tu, còn là phàm nhân, không đi tu nên làm gì có chuyện ẩn tu. Lý do là vì bịnh nên chẳng đi đâu được. Trong khoảng thời gian ấy, có một lần chống gậy đi họp mặt bạn bè mừng một người bạn từ xa về, ngồi gần hai tiếng về cái lưng đau nặng hơn nên sợ quá, cắm trại trăm phần trăm luôn. Nằm suốt tháng nhưng chẳng viết được chữ nào dù ngoài kia đang lắm chuyện xảy ra làm rung động cả xã hội và lòng cũng ngổn ngang trăm mối.

Thật ra cái lưng bắt đầu đau từ đầu tháng 4, âm ỉ thôi. Tui bị gout nên uống khá nhiều thuốc giảm đau nên rất sợ ảnh hưởng đến thận. Thấy đau lưng là lo nên đến bịnh viện Tâm Anh khám và xét nghiệm. Bác sĩ xem kết quả bảo thận chú còn rất tốt như tuổi năm mươi. Nghe cũng mừng, bớt một mối lo liền rủ người em thường gắn bó với tui qua nhiều chuyến đi ra Đà Nẵng chơi kết hợp gặp gỡ bạn bè thời trung học nhân ngày hội trường thường niên. Cận ngày, vé máy bay hiếm mà giá cao quá nên quyết định đi xe lửa. Đi rồi mới thấy đó là chọn lựa sai lầm. Thời gian đó chưa xuất hiện toa tàu du lịch Sài Gòn-Đà Nẵng như bây giờ nên chuyến đi có nhiều điều không vừa ý. Phòng thì cũng được nhưng phục vụ kém, căn tin bụi bặm, trang bị nghèo nàn và xập xệ, phòng vệ sinh chật hẹp và cáu bẩn, những chiếc xe bán hàng rao như thời bao cấp. Lại thêm cuộc hành trình kéo dài 18 tiếng đồng hồ lắc lư theo bánh xe nghiến trên đường tàu xình xịch chán ngắt. Đến nơi cái lưng lại đau nặng thêm nên đành trả vé tàu mua vé máy bay để trở vào dù giá quá xá đắt.

Về lại Sài Gòn được mấy tuần thì một đêm sau khi ngủ dậy tui không đứng lên được, cơ lưng đau như bị vọp bẻ, không chịu nổi. Khẩn cấp chạy vào Tâm Anh. Nhân viên bảo đau thế này không thể chờ khám được mà phải vào cấp cứu. Thế là vào cấp cứu. Trước tiên là phải đóng tiền, đương nhiên phải thế thôi. Sau đó là một loạt xét nghiệm, siêu âm, chụp hình, MRI... Riêng cái khoản MRI, tay bác sĩ trẻ báo 2 giá, nếu chờ chiều có kết quả thì hơn 3 triệu, nếu muốn có kết quả ngay thì hơn 4 triệu. Báo là thế nhưng anh ta khuyên nên chọn giá cao cho nhanh. Tui nói vừa xét nghiệm tuần trước cũng chính ở bịnh viện này nhưng người ta trả lời là chỉ cần ba ngày có thể kết quả đã thay đổi rồi nên cần xét nghiệm lại. Thì thôi, cũng đành chi tiền thôi. Tổng chi phí gần 9 triệu đồng. 

Đến trưa thì tất cả đã có kết quả. Hai ba ông bác sĩ xem và bàn với nhau gọi là hội chẩn. Tay bác sĩ trẻ thông báo với tui là nghi có một loại virus nào đấy xâm nhập vào hệ thống cột sống của tui gây đau. Anh gợi ý đến bốn, năm lần là phải nằm viện khoảng ba tuần để xem con virus ấy là gì hầu có phác đồ điều trị. Anh ta ra giá luôn là ba tuần chi phí là 170 triệu chưa tính tiền phòng. Tui thấy hơi sai sai về cái vụ virus và thấy hơi khó chịu với vụ đề nghị nằm lại với giá cao như thế. Tui bực mình đề nghị xin về, anh ta lại khuyên tui nên ở lại chữa trị vài lần nữa nhưng tui cương quyết đòi về. Thế là anh ta bắt tui ký một cái giấy với nội dung BS đề nghị nội trú nhưng bịnh nhân đòi về nên bịnh viện hoàn toàn không chịu trách nhiệm. Nghĩ cũng lạ, bịnh tuy đau nhưng bảo là không nguy hiểm tính mạng sao về phải ký giấy cam đoan. Doạ người yếu bóng vía đến thế cơ à? Vào bịnh viện mới thấy người khó khăn dính bịnh là không cách gì xoay xở. Khâu nào cũng tiền, cái khẩu trang, bình diệt khuẩn, cái bao tay của y tá, bác sĩ xử dụng cũng tính thành tiền bắt người bịnh trả. Tốt nhất là đừng để phải vào chốn ấy. Nhưng cuộc đời mà, sinh lão bịnh tử, bịnh như một quy luật khó tránh nên vào viện người ta tha hồ thu tiền mà chẳng thấy cảm thông khó khăn của người bịnh và bịnh nhân cũng chẳng bao giờ dám kêu ca, trả giá.

Về nhà, lê lết trên giường, nghĩ nhiều chuyện. Từ chuyện nhân tình thế thái đến chuyện phận số. Những thước phim của những đoạn đời được nhớ lại, nghĩ về những người đã qua cuộc đời mình và giờ nằm cô độc ở đây. Chờ đợi một lời thăm hỏi, một tin nhắn để lấy đó làm an ủi. Xem lại nhiều hình ảnh để nhớ về một thuở nào đó trong cuộc đời. Quẩn quanh với nhiều ý nghĩ. Nhìn ra những điều tốt đẹp của một người đầu trần chân đất đang đi trên con đường thiên lý. Nghiệm ra những luẩn quẩn của một kiếp nhân sinh. Cố lạc quan nhưng toàn bi quan trong ý nghĩ. Cố nén những cơn đau nhưng nó vẫn hiện diện ở thân thể, cũng đành chấp nhận thôi. Vui còn chia cho người, đau làm sao để sẻ cho ai?

Hằng ngày vẫn có thầy thuốc ở Bệnh viện Y học Dân tộc đến châm cứu, chạy điện, bó thuốc, thuỷ châm. Đã qua một tháng, lưng đau đã có phần thuyên giảm, mong sẽ trở lại bình thường để gặp gỡ bạn bè, để viết vài trang tào lao cho cuộc đời thêm tươi. Rất mong.

Bài viết này như là để trả lời mọi người cứ thắc mắc sao lâu rồi không thấy tui viết gì. Cảm ơn những tin nhắn, những lời thăm hỏi của bạn bè, những người thân quen và của những người tuy chưa gặp mặt nhưng có quan tâm đến tui. Xin cảm ơn.

Sài Gòn 7.6.2024

DODUYNGOC






Hôm nay giỗ Mạ. Đã 15 năm chúng con không còn Mạ. Ba đi trước mấy năm, Mạ đi sau và chúng con trở thành những đứa con mồ côi từ đó. Anh em bây giờ đi bốn phương trời, ngày giỗ chỉ còn mấy đứa. 

Ngày Mạ mất, tôi vừa qua cơn đại phẫu lần thứ ba ở bệnh viện Pháp Việt. Mổ lúc 14:00, gần 17:00 mới tỉnh đang nằm phòng hậu phẫu thì nghe tin Mạ mất lúc 20:00. Thời kỳ Mạ yếu nằm ở BV Tâm Đức, tôi cũng lâm trọng bệnh phải mổ lần đầu ở BV Ung Bướu nên ít thăm Mạ, Mạ trách nhưng tôi dấu không dám nói thật mình bệnh sợ Mạ lo nên đành để Mạ buồn, Mạ giận. Mạ mất, tôi dứt khoát đòi xuất viện dù vừa xong cuộc giải phẫu. Cô Bác sĩ người Pháp mổ cho tôi đành chịu ký giấy cho tôi về nhưng cứ dặn đi dặn lại là phải cách xa người mất, không được lại gần rất nguy hiểm vì dễ nhiễm trùng vết thương. Thế là tôi về nhưng không được nhìn mặt Mạ lần cuối, chỉ đứng xa mà nhìn với dòng nước mắt. Chắc Mạ cũng sẽ thương mà thứ lỗi cho tôi. 

Thời gian cuối đời, Mạ cứ muốn về lại làng Lệ Thuỷ, Quảng Bình, quê của Mạ. Nhưng làm sao đi được khi Mạ đã yếu rồi. Mạ nhớ quê nhà đã xa cách mấy chục năm. Như một lời báo trước, Mạ muốn nhìn quê nhà lần cuối trong đời.

Khi Mạ già Mạ rất khó tánh dù bình thường Mạ cũng khó rồi. Vì vậy nhiều lúc chúng con không làm vừa ý Mạ, Mạ hờn, Mạ trách, Mạ buồn. Những lần giỗ Mạ, tôi tự trách mình có nhiều lần không làm theo ý Mạ.

Giờ Mạ đã được nằm cạnh Ba với anh Hai. Giờ Mạ đã ở trên kia rồi, hay đã đầu thai kiếp khác. Các con vẫn luôn nhớ thương Mạ, vẫn nhớ giọng nói, tiếng cười và thân hình phốp pháp khi tuổi già của Mạ. Vẫn nhớ dáng Mạ trong gian bếp nấu những món ăn ngon cho đàn con hơn chục đứa thời chúng con còn bé. Vẫn nhớ những giọt mồ hôi của Mạ ngồi làm mứt bánh lúc chúng con vừa lớn. Vẫn nhớ không thể nào quên hình ảnh Mạ với chiếc áo dài nhung, chỗi hạt ngọc đeo ở cổ trong những ngày lễ Tết. Giờ con đã là lão già hơn tuổi bảy mươi, cứ nhớ Mạ là muốn khóc. Mỗi lần tôi hát bài Mẹ tôi của nhạc sĩ Trần Tiến, lần nào cũng chảy nước mắt vì nhớ Mạ.

Chiều nay con đốt nén nhang, vái lạy trước khung hình của Mạ và thầm gọi Mạ ơi!

23.4.2024

DODUYNGOC


Ba giờ sáng, không ngủ được, ngồi dậy mở máy vào messenger mục tin nhắn đang chờ xoá bớt tin nhắn, thấy một tin của một người lạ: "Bảo đây. Tìm mày gần 50 năm. Hello Ngọc Nhà Đèn...Tao biết mày không thích cái tên này nhưng vẫn gọi vì tao chỉ nhớ đến cái tính ngông của mày." Ngọc Nhà Đèn, cái nick name này ở đâu ra ta? Tôi nghĩ hoài không ra. Bảo nào? Tôi có nhiều người bạn tên Bảo. Vào Facebook của người này. Nhìn hình lạ hoắc, không gợi khuôn mặt thân quen nào, bèn trả lời:"Xin lỗi bạn, chắc bạn nhầm tôi với ai rồi." Bên kia nhắn lại ngay:"Tôi có người bạn cùng tên, trước học ở ĐHVH phân khoa GD....tất cả giống bạn? Xin lỗi nếu đã nhầm. Cảm ơn bạn đã trả lời." Lại suy nghĩ, nếu học Giáo Dục Vạn Hạnh thì chắc là người có thể không quen nhưng phải biết. Nên viết nhắn lại:" Bạn học Vạn Hạnh khoá nào và phân khoa gì? Tôi cũng có bạn tên Bảo học khoa Sử Địa người Nha Trang". Nhắn thế thôi chứ tôi chưa nghĩ đến người bạn cũ tên Bảo, lâu nay tôi vẫn cố tìm. Trả lời:"Thêm vài chi tiết nữa, may ra bạn nhớ? Cái bức tranh vẽ vội đã nuôi bạn lúc đói mèm vào thời điểm đó. Đúng rồi, tôi đấy. Người đã cùng trọ với Vinh,người DN." Trong lòng tôi vỡ oà niềm vui, đúng là người bạn cũ đây rồi. Tôi nhanh chóng nhắn tiếp:" Trời ơi sao bây giờ khác thế. Bảo người gốc Quảng Bình và nhà ở Nha Trang". Nhắn lại:"Hình như có lần bạn ghé NT ,tụi mình ra biển ngắm sao đêm? Nhớ quá ngày ấy...bác Trần Đới, Bùi Giáng...". Thế rồi hai thằng nối điện thoại nói chuyện với nhau hơn tiếng đồng hồ đến khi trời ửng sáng, nhắc đủ thứ chuyện của hơn 50 năm trước.

Hơn năm mươi năm trước, tôi là thằng sinh viên nghèo từ Đà Nẵng vào Sài Gòn đi học. Vì nhiều lý do khó kể ra, tôi vào Sài Gòn mà không có ai trợ cấp, sống như đứa con hoang. Rất nhiều hôm đói, rất nhiều ngày đói. Lâu lâu có bài đăng báo có được chút tiền còm. Rồi vẽ biểu ngữ, bán tranh, viết thông báo cho trường, thiết kế sân khấu cho Đoàn Văn nghệ Sinh viên Vạn Hạnh do anh Phạm Thế Mỹ làm trưởng đoàn. Thu nhập rất bấp bênh. Túi thường rỗng và bụng rất nhiều lần đói. Không nhớ sao lại có tiền thuê nhà ở hẻm 108 Trần Quang Diệu, căn nhà trống trải chẳng bàn ghế, không giường chiếu có một căn gác lửng bằng gỗ và ngoài sân có cây mận đầy sâu. Từ đường vào nhiều con hẻm ngoằn ngoèo mới đến nhà nằm gần con kinh nước đen. Tôi ở chung với hắn, Trần Ngọc Bảo và mấy người bạn nữa. Hắn cũng vốn gốc Quảng Bình và cũng dân di cư như tôi. Gia đình hắn ở Nha Trang, bố là Trung tá quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Hắn được gia đình tiếp tế hàng tháng, dù không nhiều vì sĩ quan hồi đấy sống nhờ lương lại đông con. Tuy vậy hắn còn khá hơn tôi vì đầu tháng có tiền để ăn học. Hắn thuộc tuýp người hiền lành, không đua đòi ăn chơi nên hợp với tôi, một thằng nghèo rớt mồng tơi ăn còn kiếm không ra lấy gì mà chơi. Hắn để tóc kiểu Beatles, mốt thịnh hành của thanh niên thời ấy, hai mắt to, tròn lúc nào cũng ngơ ngác và khuôn mặt dài. Hắn học cùng phân khoa Giáo Dục, Đại học Vạn Hạnh với tôi nhưng ban Sử Địa còn tôi ban Việt Hán. Hai thằng thường đi học chung với nhau. Đi bộ qua những con hẻm hẹp loanh quanh ra đến đường Trương Minh Giảng. Những lần tôi không có tiền ăn cơm, tôi ăn ké khay cơm của hắn. Hồi đó trường Đại học có câu lạc bộ sinh viên, bán phiếu cơm với giá rẻ cho sinh viên. Mỗi phần ăn gồm một khay có mấy ngăn, ngăn cơm, ngăn canh và ngăn món mặn thường là đậu hủ với vài miếng thịt bạc nhạc hay nửa khúc cá kho. Đồ ăn theo tiêu chuẩn nhưng cơm thì không hạn chế. Hắn mua phiếu, ngồi ăn hết cơm và thức ăn, thay vì mang khay vào trả thì hắn sẽ đứng lên và tôi thay vào chỗ hắn, mang khay vào lấy thêm cơm ra ăn với trái chuối hay chút nước mắm. Nhờ chiêu đó, tôi qua được những cơn đói ngặt nghèo.

Ở chung còn có lão thi sĩ Trần Đới, người có khuôn mặt và hàm râu giống nhà văn Nga nổi tiếng Mikhaylovich Dostoyevsky. Lão cũng là kẻ lang thang, suốt ngày làm thơ và ôm cái đàn mandolin gảy những hợp âm lộn xộn.

Lâu lâu cũng có nhóm bạn âm hồn của tôi ghé vào, toàn là dân biệt kích, không quân lái máy bay chiến đấu đi bỏ bom về và cũng không thiếu vài tay du đãng. Mỗi lần đám đó tụ hội là râm ran, bày đủ trò phá phách nhưng tôi và hắn không bao giờ tham gia. Có một lần tay bạn du đãng của tôi lúc ấy đang dính với một em me Mỹ. Thằng chồng Mỹ của ả đi hành quân, ả và tay giang hồ bạn tôi dọn sạch sành sanh đồ đạc trong nhà mang qua gởi nơi tụi tôi ở trọ. Tôi sợ quá năn nỉ chúng dọn đi gấp. Lần đó MP của Mỹ tìm vào xóm, may mà không phát hiện được gì vì đã chuyển đi trước đó. Hú hồn!

Ở chung cũng có người hoạt động Việt Cộng. Tụi tôi biết nhưng việc ai nấy làm, đời ai nấy sống, hồn ai nấy giữ nên cũng chẳng quan tâm. Sau 75 người này làm việc bên Sở Văn Hoá Thành phố.

Ở chung với nhau một thời gian thì tan hàng, mỗi đứa một phương. Trải qua bao nhiêu biến cố và đổi thay của thời cuộc cùng đời sống của mỗi người nên chẳng liên lạc gì với nhau. Nhất là sau 75, tan hàng, rã đám tôi và hắn bặt tin nhau. Tôi đôi khi cũng hỏi thăm về hắn nhưng chẳng ai biết. Tôi nghĩ chắc hắn di tản hay vượt biên rồi vì gia đình hắn ở Nha Trang sát biển và bố hắn lại là sĩ quan cao cấp VNCH. Giờ gặp lại hắn cho biết là trong những ngày cuối của cuộc chiến, hắn được lùa đi với đám lính Đại Hàn nên rời Việt Nam rất sớm. Bố hắn kẹt lại đi cải tạo mấy năm.

Giờ hắn định cư ở Úc, đã có chắt rồi và hắn bảo hắn tìm tôi hơn 50 năm nay giờ mới gặp qua Facebook. Cũng cảm ơn Facebook, nhờ nó mà chúng tôi lại tìm được nhau sau bao thăng trầm, biến đổi. Thằng nào cũng đã quá tuổi bảy mươi, nằm nhắc lại những kỷ niệm, ký ức lại tràn về. Nhìn lại những năm tháng của một thời, khó khăn nhưng vui, rất vui và nhiều khát vọng ở tương lai. Bây giờ chân đã run, sức đã yếu, sự nghiệp cũng chẳng có gì, những ký ức của ngày tháng cũ tràn về, vẫn nhớ như in những bước chân trong những con hẻm nhỏ, ngôi nhà trống trải, những bữa cơm ở câu lạc bộ sinh viên. Thời gian đi mau quá, chớp mắt đã hơn nửa thế kỷ rồi. Chúc bạn ta và cũng tự chúc mình có sức khỏe và niềm vui với tuổi già. Hy vọng có ngày gặp lại nhau.

6.2.2024

DODUYNGOC 


Hồi còn bé, tôi rất mong ngày Tết. Không phải vì Tết có nhiều món ăn ngon, cũng không phải vì những bộ áo quần mới, cũng chẳng phải Tết có được thêm tiền lì xì. Tôi mong Tết vì cái mùi của Tết. Cái mùi mà bây giờ lên hàng lão tôi khó tìm thấy đủ như những ngày xưa.

Trời đất, thiên nhiên bốn mùa đều có mùi của mùa. Mùa xuân có mùi của cây non trổ lộc, mùi của hương hoa. Mùa hạ có mùi của nắng, mùi của mồ hôi, mùi gió biển và mùi cá khô phơi tràn bãi cát. Mùa thu có mùi của lá vàng, của gió thu lướt trong không khí, mùi của nắng vàng mật ngọt. Mùa đông có mùi của bếp lửa, của bắp nướng, của chén khoai khô ngào đường và mùi của những cơn gió cắt da. Nó còn cái mùi của những chiếc áo ấm cất lâu trong tủ mang ra còn vương mùi long não. Mùi của Tết khác hẳn, nó không phải là mùi của bốn mùa gộp lại mà nó có mùi rất riêng. Tôi gọi đó là MÙI CỦA TẾT. Mùi này một năm chỉ có một thời gian rất ngắn rồi phai đi chờ đến Tết năm sau.


Trước hết, trong tôi là mùi của hoa. Đó là mùi hăng hắc độc đáo và nồng nàn của những chậu hoa vạn thọ mà Ba tôi rất thích bày khắp sân mỗi dịp Tết về. Những chậu hoa với những bông vàng rực, sáng cả một góc sân. Đó là hương của những cành hoa huệ trắng Mạ ưa cắm trong chiếc bình bằng đồng được đánh bóng sáng ngời đặt trên bàn thờ. Ngay phòng khách mùi hoa lay ơn đỏ Mạ cắm đặt ở bàn salon cũng có mùi nhè nhẹ. Đó là mùi thơm thoang thoảng của những chậu lan khoe sắc trên giàn ở bìa sân do nhiều người biếu Ba trong dịp Tết. Đó cũng là mùi thơm rất mỏng từ chậu mai vàng nhiều cánh nở bung được đặt trang trọng ở giữa nhà. Tất cả hương của những thứ hoa bàng bạc trong nhà báo hiệu đã cận Tết rồi.

Mùi của Tết còn là mùi của nhang, trầm khiến cho căn nhà ấm lại trong cái lạnh đầu xuân. Mùi nhang khói như sợi dây nối liền những người đã khuất với những người đang sống. Mùi để nhớ về, mùi của những cuộc đoàn viên. Cháu con thắp lên cây nhang, đốt lên ánh nến, mẩu trầm rồi vái lạy trước bàn thờ, trước di ảnh của ông bà, cha mẹ. Cái mùi nhang khói ấy theo mãi suốt một đời người.

Đó còn là mùi thơm của thau mứt gừng, mứt dừa, mứt bí, mứt khoai, mứt me Mạ làm. Cái mùi cháy của đường phảng phất mùi va ni cuốn hút thằng bé chực chờ được vét thau. Cái mùi và miếng mứt hơi cháy ở đáy thau theo thằng bé đi suốt cho đến tuổi già. Giờ không mấy nhà tự làm mứt nữa, tiệm, siêu thị bán đầy, chẳng mấy ai mất công ngồi đổ mồ hôi bên bếp lửa. Mạ tôi mất hai chục năm rồi, tôi không còn được thưởng thức món mứt của Mạ và cũng chẳng còn được nhìn dáng Mạ chảy mồ hôi bên nhiều thau mứt nữa. Bóng Mạ vẫn về trong ký ức mỗi độ Tết đến, xuân về.

Tết còn có mùi của các loại bánh in. Ngày xưa Mạ làm đủ loại bánh gói trong những loại giấy bóng màu. Mùi của bánh thơm thơm hương bưởi, hương va ni, mùi của bột. Tất cả đặt trong những chiếc khay gỗ quý khảm xà cừ. Nó còn là mùi của những chén chè đậu xanh, chè khoai tím xếp từng dãy trên bàn. Còn mùi bánh chưng trong thùng sôi sùng sục đêm giao thừa, nó có thoảng nhẹ của mùi nếp chín, mùi của lá chín và mùi chi nữa không tả được và cũng chẳng quên được.

Còn mùi của thịt heo luộc, thịt heo ngày xưa luộc chín có mùi thơm của thịt mà bây giờ khó tìm thấy nữa. Thịt luộc chín ăn đã ngon, ngâm vào nước mắm lại càng ngon. Ngâm đến khi thịt biến màu sẫm, mỡ trong màu hổ phách. Lúc đấy miếng thịt heo ngâm nước mắm lại mang mùi khác. Không phải mùi của thịt jambon, thịt nguội mà là mùi đúng chất Việt Nam bởi nó thấm đẫm mùi nước mắm Việt qua tay chế biến của người phụ nữ Việt. Cũng phải kể đến mùi của món bắp bò ngâm nước mắm nữa. Và cũng không quên tảng thịt heo quay thơm lạ lùng với những mảng da dòn tan. Đó là chưa kể đến mùi thơm của những đòn chả nóng, xâu nem chua, những cây tré đượm mùi riềng.

Rồi đến mùi hăng hăng của kiệu. Phơi một nắng, kiệu bỏ vào lọ giấm lại có mùi khác. Thêm mùi của dưa món, ngâm chín tới mà ăn với bánh chưng, bánh tét mới thấy hết cái ngon của dưa món. Một sự hoà điệu tuyệt vời.

Nó còn là mùi của những bếp than hồng đỏ lửa trên đó có nồi thịt kho tàu với trứng, trên đó có nồi cá kho thơm phức mùi nghệ, trên đó có mùi cá nướng, cá chiên chuẩn bị bữa cúng rước ông bà.

À còn mùi của những loại rau. Rau thơm miền Trung nhỏ lá nhưng thơm hơn nhiều vùng lá to mà tinh dầu kém. Món chi ăn cũng có rau kèm, ngày Tết ăn nhiều dầu mỡ lại càng cần rau.

Ngày xưa còn có mùi pháo. Mùi mang âm hưởng Tết nhiều nhất. Nghe mùi pháo là biết Tết đã tới rất gần. Đêm Giao thừa, trong khoảnh khắc giao thoa giữa cái cũ và cái mới, trong không gian thiêng liêng, mùi pháo, tiếng pháo báo hiệu Tết tới, thể hiện không khí rộn ràng của một năm mới, đón chào những thành công mới. Chỉ tiếc giờ đây Tết không còn pháo. Không tiếng nổ của pháo nên mùi của Tết thiếu đi một nửa khi không còn mùi pháo. Đứa bé ngày xưa chỉ giữ mãi hình ảnh những phong pháo nổ dòn và cậu bé hân hoan lượm pháo lép trong mùi nồng nặc của khói pháo. Tội nghiệp những đứa trẻ được sinh ra và lớn lên khi Tết không còn pháo. Trong ký ức của chúng không có mùi của pháo. Không được nghe những tiếng nổ giòn giã và xác pháo hồng ngập sân.

Mùi của giấy tiền, vàng mã cũng là mùi của Tết dù ngày giỗ chạp cũng thường đốt loại này. Nhưng ngày Tết thì mùi này có khác hơn, đượm mùi thiêng liêng, trân trọng hơn. Lại nhớ Ba mỗi lần đốt vàng
mã, Ba bắt phải đốt cháy hết thành tro, Ba bảo không thể cúng cho ông bà áo quần, tiền vàng rách vì chưa cháy hết.

Cuối cùng là mùi của những dĩa trái cây, mỗi loại trái có một mùi riêng, tổng hợp lại thành mùi hoa quả ngày Tết đến.

Mùi của Tết là sự tổng hoà của nhiều mùi mà chỉ có ngày Tết mới có. Nó không chỉ là mùi của những vật phầm. Nó còn là mùi thiêng liêng đi theo suốt quãng đời của mỗi người. Có thể mỗi gia đình, mỗi dòng tộc có mùi Tết riêng nhưng tựu trung mùi của Tết là mùi khó quên nhưng giờ khó tìm cho đầy đủ cái mùi ấy như những ngày xưa cũ.

Chẳng còn bao ngày nữa lại đến Tết. Nhắc mùi của Tết lại nhớ Ba, nhớ Mạ, nhớ những người đã mất quá chừng. Nỗi nhớ trào nước mắt.

DODUYNGOC

Tháng 12.2006, lần thứ ba tôi đến Mỹ. Lần đầu tiên đến Mỹ năm trước đó, tôi gặp lại người bạn cũ cùng học ở Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn. Anh bạn ở một mình trong một Appartement khu Fullerton, California. Một căn nhà chỉ có một phòng ngủ và cái bếp nhỏ. Tôi thích ở đó vì được tự do hút thuốc, tự do ăn mặc, khỏi phải giữ kẽ và chào hỏi ai dù phải trải nệm ngủ dưới đất. Lần này cũng thế, tôi chọn về căn phòng của anh thay vì đến nhà cô em hay những người bạn khác có nhiều tiện nghi hơn. Lúc này mùa đông nên anh đưa tôi một máy sưởi nhỏ do vậy dù nằm dưới sàn cũng không đến nỗi lạnh lắm. 

Ở được vài hôm thì có vợ chồng người bạn ở Savannah, Georgia về Cali rủ tôi đi Santa Fe, New Mexico rồi ghé Las Vegas chơi. Sau gần tuần lễ lang thang, đêm 24.12, đêm Giáng Sinh, tôi về lại Fullerton. Vợ chồng người bạn đưa tôi về đến nơi thì căn phòng của bạn tôi đóng cửa, một mảnh giấy gài ghi là bạn tôi đi đón Giáng Sinh, vắng mặt mấy hôm. Tôi đang hoang mang chưa biết định đi về đâu, lúc ấy đã hơn 9:00 tối. Bất chợt vợ chồng người bạn có điện thoại, một người bạn của hai chúng tôi hỏi chúng tôi đang ở đâu, anh cũng đang ở Nam Cali. May quá, tôi nhờ anh bạn vừa điện thoại đến đón tôi vì vợ chồng người bạn phải ra phi trường về lại Georgia ngay trong đêm. Đứng chờ hơn tiếng đồng hồ trong gió lạnh, người bạn xuất hiện cùng với một người bạn mới. Chúng tôi đi tìm quán ăn và uống rượu nhưng hầu như các hàng quán đều đóng cửa. Phố vắng vì ở Mỹ, Giáng Sinh là dịp để mọi người cùng ở nhà vui vẻ với nhau, chứ không tuôn ra đường như ở xứ ta. 

Đêm đã khuya, những ngọn đèn từ những hang đá trước nhà dân nhấp nháy trong hoang vắng và lạnh lẽo. Tôi bảo với anh bạn nhờ kiếm cho tôi một khách sạn ngủ qua đêm. Anh bạn lái xe chạy vòng vòng vì không biết đường. Anh ta ở San Jose, Bắc Cali nên hình như không thông thuộc đường sá chốn này. Xe chạy mãi, qua nhiều ngã tư, nhiều phố vắng hoe
mà không tìm được khách sạn nào. Đã gần nửa đêm, tôi quyết định điện thoại cho anh Trí, anh của một người bạn, hy vọng kiếm chỗ ngủ qua đêm vì giờ này đến nhà người khác sẽ rất bất tiện. Anh Trí khá thân thuộc với tôi hồi còn ở Việt Nam, anh qua Mỹ diện HO sau thời gian dài học tập cải tạo. Vợ anh cũng là người dễ tính, không khách sáo nên tôi mới dám gọi cho anh lúc khuya khoắt thế này. Anh rất vui khi nhận được điện thoại của tôi, chỉ đường rất cặn kẽ. Anh bảo anh ở khu Garden Grove, gần nhà thờ kiếng nổi tiếng. Tôi báo lại với anh bạn địa chỉ, hình như anh ta cũng mù tịt nhưng cố làm ra vẻ nên bảo cứ đi, tao nhớ đường này. Thế nhưng chạy gần hai tiếng đồng hồ vẫn không tìm ra đường. Anh Trí, anh của bạn tôi cứ điện liên tục hỏi em đến đâu rồi? Tôi cũng chẳng biết đang ở đâu để trả lời anh. Xe vẫn chạy vòng vòng, hình như thời đó chưa có Google Map và GPS thì phải. Cuối cùng anh Trí chỉ dẫn chi tiết từng con phố, góc đường và bảo anh sẽ trùm áo mũ màu trắng đứng ở ngã tư đấy, ở đấy để đón chúng tôi. Thế rồi cuối cùng chúng tôi cũng nhìn thấy anh. Thương anh nửa đêm rét mướt đứng ở lề đường đón thằng em đang bơ vơ ở xứ lạ. 

Đó là lần đầu tiên tôi đón Giáng Sinh ở nước Mỹ trên hè phố lúc nửa đêm trong tâm trạng hoang mang không rượu thịt, bánh ngọt, đèn hoa.

Chỉ định ở nhờ nhà anh Trí một đêm vì nhà anh chật, cũng chỉ có hai phòng ngủ nhỏ mà nhà anh đã có đến 4 người. Hai vợ chồng anh và hai đứa con trai lớn tướng, cao lêu nghêu. Tôi ngủ ở ghế sofa nơi phòng khách. Nhưng khi điện về Việt Nam nói chuyện với người em của anh cũng là người bạn thân của tôi thì anh bạn lại báo tin cho tôi biết anh Trí vừa phát hiện ung thư thời kỳ cuối, có thể đang rất lo lắng nên khuyên tôi gắng ở lại vài hôm nói chuyện, an ủi anh cho anh bớt lo âu. Thế là tôi ở lại ba hôm, nói chuyện, tâm sự cùng anh, anh cũng không đến nỗi bi quan, anh bảo Bác sĩ đang cho anh uống loại thuốc mới thử nghiệm để chữa ung thư phổi, hy vọng lắm.

Tôi rời nhà anh đi New Hampshire thăm cô em gái và sau đó về Việt Nam trên chuyến bay trong đêm giao thừa 30.12.2006. Chuyến bay đêm cuối cùng của năm cũng có nhiều kỷ niệm khó quên. Một thời gian sau tôi nghe tin anh Trí mất, tôi ở Việt Nam không viếng tang anh được, đành chắp tay bái vọng anh từ xa. Tôi vẫn nhớ mãi hình ảnh của anh với áo khoác trùm đầu màu trắng đứng bên phố vắng rét mướt trong đêm Giáng Sinh năm ấy. Một đêm Giáng Sinh không thể nào quên và thương tiếc một người anh hiền lành, chân tình, dễ thương đã không còn ở cõi đời.

Mùa Giáng Sinh 2023

DODUYNGOC


MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget