Đỗ Duy Ngọc

Latest Post

 







Sáng nay rảnh rỗi tụ tập sang nhà người bạn ở Phú Mỹ Hưng. Trong đoàn có bạn Hiếu Piano, một Pianist sừng sỏ của đất Sài Gòn. Do vậy khi vào phòng khách thấy cây đàn Piano nằm chễm chệ ở trong phòng, Hiếu thấy mình chạy đâu cho thoát, chắc chắn là phải ngồi vào đàn rồi. 

Tạm ăn sáng với croissant và fromage, Hiếu đánh đàn theo yêu cầu. Cô chủ nhà duyên dáng đề nghị La Vie en Rose, mở đầu vậy là cũng đẹp. Đây là bản tình ca bất hủ mang tính biểu tượng của nền âm nhạc Pháp, do huyền thoại âm nhạc Édith Piaf sáng tác lời và thể hiện cách đây 80 năm. 

https://youtu.be/qPU8mENUBXk?si=nm_qcTPNxEjW6bNy

Tới tui, đang buồn đời nên yêu cầu Mal, bài hát rên rỉ một thời nổi tiếng của giới trẻ miền Nam. Bài này là một ca khúc nhạc Pháp do danh ca Christophe trình bày. 

https://youtu.be/Qh8kqxwQpYg?si=t_fGTsPmgl_2DdkA

Anh bạn tui về từ Mỹ lại khoái Love Story, bài hát chính trong bộ phim kinh điển Love Story (Chuyện tình) năm 1970, do nhạc sĩ người Pháp Francis Lai soạn nhạc và phần lời tiếng Anh do Carl Sigman viết.

https://youtu.be/mCa07ujl3jM?si=6VXqRKWpan0K5-Xv

Nghe những bài hát cũ lại nhớ nhạc phim của một thời. Những bài hát trong phim nổi tiếng không khác gì phim. Khi màn hình hiện chữ Hết, ánh sáng rạp bừng lên, khán giả ra về nhưng tiếng hát, lời ca, điệu nhạc vẫn vương vấn mãi mấy chục năm sau, không quên được.

Đó là tiếng kèn, tiếng vó ngựa, tiếng súng nổ, tiếng huýt sáo trong những phim Cowboy miền Viễn Tây với những khuôn mặt khó quên. Nhắc đến phim Cowboy miền Viễn Tây (Western) là nhắc đến một thời kỳ vàng son của điện ảnh Mỹ và cả dòng phim cao bồi Ý (Spaghetti Western). Đó là các diễn viên John Wayne, là Clint Eastwood. Còn có Gary Cooper, James Stewart, Burt Lancaster, Kirk Douglas, Yul Brynner, Steve McQueen. Đặc biệt nhớ nhiều là Charles Bronson một khuôn mặt rắn rỏi, ít nói, đầy vẻ bí ẩn. Còn có Henry Fonda, Lee Van Cleef, Franco Nero, Anthony Quinn và William Holden….những gương mặt rất quen thuộc với khán giả yêu phim Viễn Tây.

Những giai điệu trong loại phim này có sức sống kỳ lạ. Sau năm , sáu chục năm rồi, có thể chỉ còn nhớ mang máng cốt truyện phim, có thể quên mất tên diễn viên. Nhưng chỉ cần nghe tiếng kèn Harmonica, tiếng guitar điện, tiếng huýt sáo, tiếng ngựa phi lọc cọc, người ta hình dung những người hùng trên lưng ngựa với chiếc nón rộng vành, khẩu súng bên hông hay cầm tay cô độc trên con đường đầy bụi, hoàng hôn đỏ rực và những cuộc đấu súng rút ra khỏi bao nhanh như chớp.

Mỗi lần nghe những đoạn nhạc này, tôi hình dung lại tuổi thanh niên, thời của những đắm say và nhiều khát vọng . Thời gian đã trôi đi, râu tóc từ xanh đến bạc trắng, giai điệu vẫn còn mãi và người càng lúc càng già đi nhưng không quên được những giai điệu tuyệt vời của ký ức.

https://youtu.be/XnzLIdvaPBU?si=Cd8zlPFS3rb15fk_

Chưa hết, còn nhạc trong phim Doctor Zhivago. Phim được chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết nổi tiếng cùng tên năm 1957 của nhà văn Nga Boris Pasternak với diễn viên Omar Sharif (vai Bác sĩ Yuri Zhivago) và Julie Christie (vai Lara Antipova). Bản nhạc "Lara's Theme" (La Chanson de Lara) do Maurice Jarre sáng tác đã trở thành một trong những giai điệu bất hủ của âm nhạc điện ảnh thế giới.

https://youtu.be/gzEEB8MeD0c?si=1ogPllxojy8OS-Wq

Và Romeo and Juliet: Nino Rota viết một giai điệu có vẻ đẹp cổ điển, vừa tha thiết vừa dự báo bi kịch. Sau đó, A Time for Us trở thành ca khúc được nhiều giọng hát nổi tiếng trình bày.

https://youtu.be/4FHpmn-KYec?si=1-WpSpLqfGqsYz1X

Đến phim Bố Già (Godfather), chen nhau mua vé, tìm sách với bản dịch của Ngọc Thứ Lang về đọc. Một bản dịch mang hơi hám, giọng điệu của thế giới Mafia. Bản dịch tuyệt vời. Và bản nhạc nổi tiếng nhất là "Speak Softly Love" do Nino Rota soạn nhạc và Larry Kusik viết lời.

https://youtu.be/AJgE_dLWsuQ?si=SIỈmWhRBRpXTUqhE 

Phim Cầu sông Kwai là bản "The River Kwai March" kết hợp với giai điệu huýt sáo của bản hành khúc "Colonel Bogey March". Tác phẩm này được soạn bởi nhạc sĩ người Anh Malcolm Arnold.

https://youtu.be/CB8F8g1-4Uw?si=q-Yt9ToôpyiQp44E

Cũng không quên phim Casablanca. Nhạc Ca khúc chính thức trong phim: "As Time Goes By" Phần nhạc nền (score) xuất sắc của phim do nhạc sĩ lừng danh Max Steiner biên soạn, nhưng linh hồn âm nhạc của bộ phim lại là ca khúc "As Time Goes By" (sáng tác bởi Herman Hupfeld từ năm 1931)

https://youtu.be/-RFqGOzk25w?si=hZjprJYPXgeMsucp

Và còn nhiều, nhiều lắm mà tuổi già quên gần hết rồi. Nhớ chừng đó thôi cũng cảm thấy đủ. Khuya rồi, ngủ đây.

17.10.2026

DODUYNGOC

 


Đi ăn trưa với đồng bọn, tình cờ gặp Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc ở quán Đo Đo. Hai người họ Đỗ cùng tên Ngọc này có nhiều “ân oán”. Trước đây có nhiều bài viết của tui trên Facebook bị lan truyền khá rộng trên không gian mạng với cái tên BS Đỗ Hồng Ngọc, lại kèm theo chân dung của vị Bác sĩ đáng kính này. Tôi đã nhiều lần viết bài đính chính cũng như đề nghị không lan truyền bài viết nữa vì không muốn làm phiền và hiểu lầm không có lợi cho anh. Nhưng lâu lâu bài vẫn xuất hiện và đôi lúc vẫn còn ghi tên BS Đỗ Hồng Ngọc. Rầu ghê! Gặp nhau rất mừng thấy BS Đỗ Hồng Ngọc vẫn khoẻ mạnh dù đã đến tuổi 86. Tôi nhỏ hơn đúng 10 tuổi mà thấy rệu rã rồi.

 


Không ngờ một kẻ lông bông, tào lao, ba trợn như tui mà lại có duyên với Phật Pháp. Chuyện là hai vợ chồng cậu em người bạn thân từ Mỹ về đi lễ chùa, thấy trong chùa có sách ấn tống: tức là sách Phật tử in cúng cho chùa, in truyện ngắn Bước không qua số phận của tui. Ngạc nhiên vì từ xưa đến nay, người ta thường in Kinh Nhật tụng, Kinh Cầu an, Cầu siêu cúng chùa chứ bao giờ lại in truyện ngắn làm sách ấn tống. Lại nghĩ tui viết truyện này có nói gì về Đạo Phật đâu? Cậu em hỏi khi in như thế này có trao đổi gì với tui không? Tui bảo chẳng biết gì mà cũng chẳng nghe ai nói gì. Thôi thì viết truyện ngày nay mà có người đọc là tốt rồi, chẳng thắc mắc mần chi. Bởi tui đâu có kiếm cơm bằng văn chương đâu, băn khoăn làm chi cho mệt người. Chỉ hơi rầu một chút là cái tựa truyện bị đổi thành Khó vượt qua số phận. Lại ghi thêm là hồi ký của tui. Tầm bậy! Đây chỉ là truyện, nhiều phần là sự thật nhưng cũng có nhiều hư cấu. Người đọc nghĩ là hồi ký lại bảo tui này nọ, không vui. Nghe thêm cách đây mấy năm, Sư cô Tâm Tâm, là giảng sư thường đi thuyết pháp, pháp thoại ở các chùa và trường học Phật Giáo có dùng truyện này làm đề tài thuyết pháp. Không biết nói sao vì tui cứ nghĩ mình là kẻ hoang đàng, giờ truyện lại được ấn tống và giảng pháp tại chùa. Vinh hạnh cũng có một chút nhưng cảm thấy hổ thẹn nhiều hơn.

https://youtu.be/veCJqcoKjrk?si=0VY3UhnG5vDQG_eL

 





Với chủ đề LIFE OF TREES , Nhiếp ảnh gia Hoàng Thế Nhiệm đang tổ chức triển lãm ảnh tại 224 Space từ ngày 10.10.2026.

Với những người cầm máy ở Việt Nam, Hoàng Thế Nhiệm là cái tên quen thuộc và được mọi người yêu kính và trân trọng. Tên của anh cũng có vị trí ở nước ngoài qua những cuộc triển lãm ngoài nước.

Lần triển lãm này gồm 32 ảnh đen trắng, theo anh để đánh dấu 32 năm cầm máy của anh. Đã từ lâu anh được mọi người tôn vinh là “Vua phong cảnh”, nhưng lần này phong cảnh của anh mang một hình thái mới, biểu hiện mới. 

Phát biểu trong buổi khai mạc, anh cho biết anh đang thực hiện dự án về Ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Hành trình đầu tiên là Mộc. Cho nên 32 ảnh đang triển lãm, bức nào cũng có cây.

32 bức ảnh có một phong cách nhất quán mang một chủ đích nghệ thuật rõ rệt khác hẳn những cuộc triển lãm của nhiều nghệ sĩ khác trước đây ở Việt Nam.

Điều đặc biệt ở đây không phải là kỹ thuật chụp ảnh mà cách nhìn thiên nhiên mang ý nghĩa triết lý đàng sau những gốc cây, cành cây, thân cây ấy. Đó là những gốc cây đã chết, những cành cây đã khô nhưng những dấu vết của sự sống vẫn tiếp tục, vẫn tiếp nối giữa không gian hoang vắng.

Trước đây, phong cảnh trong ảnh của Hoàng Thế Nhiệm là những cảnh đẹp có địa chỉ, là những trời mây, cây cỏ, núi rừng, non nước của những địa danh nổi tiếng. Giờ đây 32 bức ảnh trong triển lãm này không xác định địa danh, bởi điều đó với tác giả là không cần thiết nữa bởi điều tác giả muốn thể hiện ở tác phẩm là những vấn đề triết lý sâu xa hơn của nhiếp ảnh hiện đại. Cũng cây, cũng đất, cũng rừng, cũng thấp thoáng cành hoa nhưng không phải những hàng cây xanh tươi, những khu rừng sum suê hay cảnh thiên nhiên đẹp theo nghĩa thông thường.

Đó là những thân cây khẳng khiu, những gốc cây chết, những nhánh cây trơ trụi, những cây nhỏ đứng một mình giữa núi đá, cát, nước và bầu trời được đặt trong không gian rất rộng khiến chúng trở nên bé nhỏ, mong manh. Và do vậy cây không còn là đối tượng mà trở thành một hình tượng mang nhiều ý nghĩa. Người xem nếu chịu khó suy nghĩ sẽ thấy cây trong ảnh như thân phận con người, có sinh thành và hủy diệt, từ diệt rồi sinh như luân hồi của kiếp người trong triết lý của Phật Giáo. Con người luôn băn khoăn về lẽ tử sinh. Tác phẩm của Nhiệm đang đề cập về nỗi băn khoăn đó.

Cây đang sống, cây đã chết khô, cây đang chống chọi và có cây chỉ còn là dấu tích. Nhưng tất cả dù đã chết vẫn chưa biến mất, nó vẫn còn tồn tại. Đàng sau cái chết là sự sống tiếp nối hồi sinh hay ngược lại sinh ra rồi để chết.

Điều này khiến người xem nghĩ rằng tác giả đang sử dụng cây như một ẩn dụ về thân phận, sự chịu đựng, sự mất mát và sức sống của con người.

Ta hãy xem bức ảnh mô tả cành cây nhỏ bên hàng rào đổ nát trên cát. Đây là một bức ảnh có ngôn ngữ tạo hình rất mạnh. Những thanh gỗ nghiêng đổ, những sợi dây thép gai và các đường gợn trên mặt cát tạo nên một hệ thống đường chéo và đường cong. Giữa cấu trúc khô cứng ấy lại xuất hiện một cành cây nhỏ có lá sáng. Ta thấy có một sự đối lập rất đẹp giữa sự sống và tàn phá, giữa mềm mại và thô ráp. Ta có thể suy nghĩ rộng hơn đến chiến tranh, đến sự cắt chia hay những giới hạn chia lìa do con người tạo ra. Có thể đó không phải là suy nghĩ của tác giả khi bấm máy nhưng bức ảnh gợi lên trong lòng người xem.

Bức ảnh nữa cũng thu hút là bức mô tả đám mây trắng lớn tạo hình khối mạnh trong ảnh. Đây là một bố cục rất tiết chế: một thân cây nhỏ mọc nghiêng bên sườn đá chơi vơi, một khối mây. Thoạt nhìn không có gì đặc biệt nhưng nhìn kỹ ta thấy cây rất nhỏ, mong manh và đám mây chiếm hết phần lớn mặt tranh. Sự tương phản về kích thước tạo nên một quan hệ thị giác thú vị đó là sự đối lập giữa cái nhỏ bé đối diện với cái mênh mông. Bức này gợi tinh thần hội họa thủy mặc phương Đông, nơi khoảng không đôi khi có sức biểu đạt mạnh hơn chính đối tượng được vẽ. Đó chính là sự tối giản của hình thể để đạt đến ý niệm.

Một bức có phong cách tối giản nữa hiệu quả thị giác rất cao ghi lại những tán cây sáng nổi bật trên nền trời tối, bên dưới là mặt nước phẳng lặng. Một khúc gỗ chết ở tiền cảnh tạo ra sự đối ứng với những cây còn sống ở phía xa. Đó là một bố cục có tính suy tưởng. Tác giả lại để một khoảng nước tối rất lớn ở nửa dưới khung hình tạo sự sâu lắng nhiều suy tư.

Bức ảnh với gốc cây chết ở tiền cảnh và cây đang xanh phía xa là một ví dụ về sinh và diệt. Gốc cây chết được đặt rất lớn, chiếm gần hết phần dưới bức ảnh. Con mắt người xem đi theo dòng đá và gỗ khô để tới thân cây đứng cô đơn ở cuối chân trời. Bố cục đó diễn tả một hành trình từ mất mát đến tồn tại.

Bàn thêm một chút về kỹ thuật ta thấy tác giả có cảm quan rất tốt về sắc độ. Những bức ảnh không chỉ đơn giản là loại bỏ màu sắc. Chúng sử dụng tương phản sáng tối để xây dựng không khí cho ảnh. Bầu trời thường có sắc xám trung gian, mây sáng mạnh, còn mặt đất, thân cây và mặt nước được đẩy xuống những vùng tối sâu. Một số ảnh có sử dụng kỹ thuật phơi sáng dài, nhất là ở mặt nước, tạo cảm giác thời gian ngưng đọng. Đặc biệt, những tán lá trắng nổi bật trên nền đen khiến liên tưởng đến hiệu quả của ảnh hồng ngoại, hoặc cách xử lý sắc độ tương tự.

Điều cần nhấn mạnh là đen trắng ở đây không chỉ là lựa chọn thẩm mỹ mà còn là một cách loại bỏ những thông tin không cần thiết để tập trung vào hình khối và cảm xúc để tạo suy niệm cho người xem.

Chủ đề của cuộc triển lãm này là LIFE OF TREES : ĐỜI SỐNG CỦA CÂY. Nói theo tác giả là MỘC. Trong triết học Ngũ hành phương Đông, Mộc không chỉ tượng trưng cho cây cối mà còn gắn với sự sinh trưởng, phát triển, vươn lên và khả năng thích ứng.

Mộc là sự sống trong quá trình vận động, chứ không chỉ là một vật thể của thiên nhiên.

Trong 32 tác phẩm trong cuộc triển lãm này đã phần nào thể hiện ý nghĩa đó.

Hoàng Thế Nhiệm không chủ yếu tìm kiếm những thân cây xanh tốt, mà dường như đặc biệt quan tâm đến cây khô, cây chết, những thân cây bị thiên nhiên bào mòn và những hình hài còn sót lại.

Nếu Mộc tượng trưng cho sự sống, thì tác giả lại thường tiếp cận sự sống từ phía bên kia của nó: sự tàn phai, mất mát và khả năng tồn tại sau những biến động.

Đây cũng là một cách diễn giải khá thú vị về Mộc.

Từ những suy nghĩ trên, không thể xếp những tác phẩm này vào loại nhiếp ảnh phong cảnh thuần túy.

Nhiếp ảnh phong cảnh thông thường thường hướng tới vẻ đẹp của địa hình, ánh sáng, thời tiết và không gian.

Ở đây, phong cảnh dường như chỉ là phương tiện để diễn đạt một tâm trạng. Tác giả không mô tả cảnh đẹp thông thường mà tìm kiếm một thế giới thị giác riêng mang khuynh hướng triết học. Cảnh vật như cái cớ để nói về sự sống, cái chết, thời gian và sự tồn tại. 

Những thân cây khô không tự kể chuyện cô độc. Những gốc cây mục không tự nói về cái chết. Chính người nghệ sĩ, bằng lựa chọn góc nhìn, ánh sáng và bố cục, đã khiến chúng mang tâm trạng của con người. Hoàng Thế Nhiệm đã làm được điều đó bằng tác phẩm của mình.

Thật ra việc tổ chức bố cục, khả năng sử dụng khoảng trống và sự tương phản sắc độ. Việc sử dụng cây cô độc, bầu trời rộng, ánh sáng tương phản và không gian tĩnh lặng cũng có sự gần gũi với mỹ học nhiếp ảnh phong cảnh đen trắng quốc tế. Trước đây những nghệ sĩ như Ansel Adams hay Michael Kenna đã sử dụng thiên nhiên và ngôn ngữ đen trắng để tạo nên những tác phẩm có sức biểu cảm rất mạnh. Tuy nhiên, ảnh của Hoàng Thế Nhiệm vẫn có sáng tạo và ý nghĩa của riêng anh.

Trong MỘC, Hoàng Thế Nhiệm không chỉ chụp những cái cây. Anh chụp những dấu vết mà thời gian để lại trên sự sống. Ở đó, cái chết không hoàn toàn đối lập với sự sống, mà trở thành một phần của chu trình sinh thành và hủy diệt.

Người xem đánh giá cao Hoàng Thế Nhiệm ở khả năng phát hiện vẻ đẹp của những đối tượng tưởng như không còn gì đáng ngắm nhìn.

Một thân cây chết, một cành khô hay một gốc mục có thể trở thành một tác phẩm nghệ thuật khi được đặt đúng trong tương quan ánh sáng, không gian và thời gian. Và từ đó ta hiểu thêm rằng, vấn đề không phải chụp cái gì mà quan trọng là bức ảnh muốn nói lên điều gì? Và những nội dung của bức ảnh có bật lên đuợc những điều ta muốn gởi gắm không? Có mang dấu ấn riêng của người sáng tác.

Chúc mừng triển lãm của Nhiệm. Chúc mừng thành công bước đầu trong dự án ngũ hành. Khó chứ không dễ. Tương sinh ngũ hành Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, và Thủy sinh Mộc. Thể hiện cho được ngũ hành và tương sinh là một dự án dài hơi và nhiều công sức. Đó là một thử thách nghệ thuật lớn. Nhưng với khả năng kỹ thuật, với tư duy sáng tạo mới, với mong mỏi thể hiện triết lý qua ảnh, tin rằng Hoàng Thế Nhiệm sẽ có nhiều thành công nối tiếp.

Sài Gòn 12.10.26

DODUYNGOC



 Hôm nay có cô học trò cách đây hơn 42 năm, trước khi bay về Việt Nam gởi cho tôi một tấm hình lúc tôi làm chủ nhiệm lớp12A6 (1983-1984). Nhìn hình cũng còn nhớ một số khuôn mặt của một thời. Giờ có lẽ gặp nhau giữa phố chắc chẳng nhận ra nhau. Mấy cô cậu đó đã tròm trèm 60 cả rồi và mình đã vào lứa cuối U80. Nhìn hình tôi còn không nhận ra tôi. Mà nghĩ cũng lạ, nhìn hình mới nhớ là học trò thời đó chẳng có mấy người mang kính cận. Sao giờ người trẻ kể cả trẻ con bị cận thị nhiều quá?

Thời gian mau thật! Biết bao biến cố, biết bao đổi thay. Nhớ một thời dù nghèo mà vui. Hồi đấy học sinh chẳng áo dài, không đồng phục, sống đơn giản mà nhiều tình. Cơm ăn không đủ no, chỉ bo bo với bột mì cần chi áo quần cho đẹp. Thầy Cô giáo phần đông đi xe đạp, dạy trên lầu mà nghe nhu yếu phẩm về là lòng nôn nao. Trang phục Thầy giáo cũng giản dị, áo chemise quần tây, chẳng cà vạt, giày da trang trọng như bây giờ. Nay nhà trường sao màu mè, cờ quạt quá. Sang thì có vẻ sang nhưng không thấy hay.

 


Chiều Sài Gòn mưa. Mưa khá lớn, tự nhiên thèm một tô cháo lòng nóng hổi. Thèm thì đi ngay thôi, Bác sĩ bảo lớn tuổi rồi, thích gì thì cứ ăn, không nên kiêng quá và cũng đừng ăn nhiều, đừng ăn thường xuyên là được. Dù quán không xa nhà lắm nhưng cũng gọi taxi, mưa quá xá mà. Ngồi trên xe nhìn qua kiếng thấy cảnh vật, con người nhoè dưới mưa.

Đến nơi, chỉ băng qua lề đường vào quán đã thấy người ướt và lành lạnh. Thế này mà húp muỗng cháo nóng thì còn gì bằng. Nghĩ vậy mà lại không phải vậy. Cháo rất nóng, dĩa gan và dồi chiên nhìn cũng hấp dẫn nhưng sao ăn vào thấy nhạt nhẽo quá. Không dám gọi sụn họng với phèo vì răng không nhai được. Cháo cũng nhạt mà lòng cũng chẳng ngon. Dồi chiên không vàng, ruột dồi cứng không béo. Còn đâu miếng dồi chiên ngày xưa, còn đâu miếng gan bùi bùi ngày cũ. Hay là tại miệng mình không còn cảm được vị ngon? Cô chủ ngày trước không thấy, mấy cậu giúp việc cũng lạ hoắc. Chắc đổi chủ rồi, tên vẫn còn đó nhưng chất lượng, mùi vị đã khác. Người mới không kế thừa được. Rất nhiều quán ăn như thế dù tồn tại qua mấy đời và bảy tám chục năm có mặt.

Thường thì tôi không thích ăn huyết, nhưng hôm nay ăn thử. Miếng huyết mềm, bở trong khoang miệng. Cũng không ngon.

Chấp nhận cơn mưa để mong ăn được tô cháo lòng một thời mà thất vọng quá. Đường đông nghẹt xe, quán lại vắng. Chờ taxi hơn nửa tiếng, tài xế đến nơi lại giục ra mau vì sợ công an phạt. Ăn không ngon mà lòng cũng chẳng vui. Nhớ trong cuốn sách Ăn mà không chơi in cách đây 4 năm, có viết về món cháo lòng. Sao hồi đó ăn thấy ngon thế?

6.10.26

DODUYNGOC




 

Lại mưa trưa. Sài Gòn tháng 10 mưa tầm tã. Những con đường ngập nước lênh láng, những con người lướt thướt dưới mưa. Đã có tuổi, không còn thú lang thang dầm mưa, không còn dám ra đường để ghé một hàng hiên nào đó đốt thuốc nhìn mưa. Lại nhớ buổi trưa hôm nào của tuổi hai mươi cách đây hơn năm mươi năm bên cửa sổ căn gác trọ với nụ hôn đầu của một cuộc tình. Tất cả đang qua đi và một mình đang ở lại. Không đi đâu nên để cho hết một ngày đành nằm nhà xem phim và nghe mưa trên mái hiên.

Tìm thấy một phim cũ đã xem cách đây hơn mười năm, giờ xem lại trên YouTube lại vỡ ra nhiều suy nghĩ khác. 

Đó là phim Perfume: The Story of a Murderer . Được dịch là Mùi hương: Câu chuyện về một kẻ sát nhân. Hay gọi tắt là Mùi hương (Perfume). Đây là một bộ phim rất đặc biệt, một phim nhiều ấn tượng và nhiều cảm xúc, dù đã xem nhiều năm rồi vẫn tràn ngập cảm giác ám ảnh của nó.

Là một phim với nội dung kỳ lạ, không giống các kịch bản phim thông thường. Được chuyển thể từ tiểu thuyết nổi tiếng Das Parfum (Perfume) xuất bản năm 1985 của nhà văn Đức Patrick Süskind. Nội dung phim rất khó để chuyển thành phim ảnh vì nhân vật chính và toàn bộ xoay quanh mùi hương, thứ chỉ cảm nhận bằng khứu giác, không dễ để biến thành hình ảnh để có thể chuyển đến khán giả. Nhưng đạo diễn người Đức Tom Tykwer đã làm được và thực hiện rất thành công tạo được cảm xúc đến người xem. Phim ra đời với sự hợp tác của ba nước Đức, Pháp, Tây Ban Nha, ra mắt năm 2006. Phim nói tiếng Anh và dài khoảng 147 phút. 

Nhân vật chính Jean-Baptiste Grenouille do Ben Whishaw đóng. Là nhân vật khác người, gầy gò, ít nói, ngây ngô và luôn lạnh nhạt tách biệt với mọi người. Dustin Hoffman diễn viên gạo cội trong vai Giuseppe Baldini: nhà chế tạo nước hoa, cũng là người phát hiện khả năng thiên phú, kỳ lạ của Grenouille. Ngoài ra còn có Alan Rickman trong vai Antoine Richis và Rachel Hurd-Wood trong vai Laura Richis. 

Câu chuyện diễn ra ở nước Pháp thế kỷ XVIII. Nhân vật Jean-Baptiste Grenouille sinh ra và lớn lên trong sình lầy, dưới đáy xã hội, một khu hôi thối tanh tưởi của khu chợ cá. Anh ta có khả năng đặc biệt là khứu giác nhạy bén trước những mùi hương. Grenouille có thể nhận ra mùi hương mà không ai có thể nhận biết. Lúc mới lớn, anh tình cờ ngửi được mùi hương của cô gái trẻ bán hàng rong trái cây. Anh nhận ra đó là mùi hương tuyệt nhất anh từng ngửi qua. Grenouille vô tình khiến cho cô gái thiệt mạng. Anh lại phát hiện mùi hương tuyệt diệu đó sẽ biến mất khỏi cơ thể khi người ấy qua đời. Phát hiện đó hình thành nỗi ám ảnh quyết định cả cuộc đời Grenouille là làm sao giữ lại một mùi hương mãi mãi?

Lúc ấy, Baldini là một nhà chế tạo nước hoa nổi tiếng, bằng khả năng về mùi hương của mình, Grenouille được nhận vào xưởng làm việc và ở đó anh chứng minh mình là thiên tài khi chế ra nhiều loại nước hoa mà trước đó chưa ai làm được. Đến lúc đó, anh ta nhớ lại mùi hương của cô gái bán trái cây và anh muốn chiết xuất và lưu giữ mùi hương của con người, đặc biệt là hương thơm của những cô gái trẻ. Với tham vọng đó, Grenouille trở thành kẻ sát nhân hàng loạt. Nhiều cô trẻ đã trở thành nạn nhân của anh để anh có thể thu giữ mùi hương của họ biến thành một loại nước hoa đặc biệt chưa từng có. Và vùng Grasse trở thành hỗn loạn khi nhiều cô gái lần lượt biến mất. Trong vùng có một cô gái rất xinh đẹp tên là Laura, con gái của Antoine Richis, một người giàu có. Ông ta lo sợ có ngày sẽ đến lượt con mình nên đem con đi trốn. Nhưng Laura lúc này là đối tượng tiếp theo của Grenouille cho nên bằng khứu giác tinh nhạy của mình anh theo dõi và bắt được Laura. Với Laura, anh ta đã chế hoàn thành một loại nước hoa kỳ lạ , anh toại nguyện vì đã đạt được khát vọng.

Nhưng người ta đã phát hiện anh là thủ phạm giết người. Anh bị bắt, bị kết án và đưa ra pháp trường xử tử.

Khi Grenouille bị đưa ra pháp trường trước một đám đông đang căm phẫn và chờ xem anh bị hành hình. Grenouille hiện lên nhỏ bé, gầy gò, gần như bất lực giữa biển người đang gào thét đòi giết mình. Thế rồi anh vẩy những giọt nước hoa, thứ nước hoa yêu thương và tha thứ. Mùi hương đó đã khiến thái độ của cả đám đông thay đổi hoàn toàn. Họ không còn nhìn thấy một tên sát nhân. Họ nhìn Grenouille như một sinh vật tuyệt đẹp, đáng yêu, gần như thiêng liêng. Cơn căm thù tập thể biến thành một trạng thái mê đắm và yêu thương cuồng nhiệt. Đây là một trong những trường đoạn kỳ lạ và nổi tiếng nhất của phim. Đó cũng là một bi kịch Grenouille đã tạo được thứ có thể khiến mọi người yêu mình, nhưng chính anh ta lại không có khả năng yêu một con người. 

Grenouille được tha và trở về Paris, nơi anh đã được sinh ra. Anh đổ toàn bộ phần nước hoa còn lại lên cơ thể. Những người xung quanh bị mùi hương mê hoặc đến mức lao vào anh trong một cơn cuồng loạn và Grenouille biến mất khỏi thế giới theo một cách vừa khủng khiếp vừa ghê rợn. Đó là một kết cuộc buồn.

Phải công nhận tài năng của 

đạo diễn Tom Tykwer, ông phải kể một câu chuyện về mùi hương, một thứ chỉ cảm nhận được bằng mũi trong khi điện ảnh chỉ có ánh sáng, hình ảnh và âm thanh. Nhưng qua cách kể và diễn xuất của diễn viên, khán giả vẫn cảm được mùi của chợ cá, của da thịt và đặc biệt mùi của nước hoa.

Xem xong phim, bỗng dưng tôi liên tưởng đến những bộ phim của đạo diễn người Hàn Quốc: Kim Ki-Duk. Thật ra hai người này có rất nhiều khác biệt. Một người ở phương Tây và một người ở trời Đông. Quan niệm cũng khác nhau. Nhưng cả hai đều có khả năng tạo ra những bộ phim mà câu chuyện không đi theo lối thông thường và hình ảnh tiếp tục ám ảnh người xem sau khi phim đã hết.

Kim Ki-Duk là một trường hợp rất đặc biệt của điện ảnh Hàn Quốc. Tuy thế, người xem phim ở nước ông rất ít người biết đến ông dù ông đạt nhiều giải quốc tế như phim Samaritan Girl đem về giải Đạo diễn tại Berlin; 3-Iron đem về giải Đạo diễn tại Venice; và Pietà đoạt Sư tử vàng Venice 2012. Phim của ông phần lớn là rất dữ dội, gây tranh cãi, không phải loại điện ảnh đại chúng. Cũng giống thị trường phim ảnh ở Việt Nam, rất nhiều phim chọc cười rẻ tiền, kịch bản hời hợt, đạo diễn non tay nhưng thường thắng lớn và được giới xem phim bình dân tán thưởng. Trong khi đó những đạo diễn làm phim sâu sắc, tài năng, đạt nhiều giải thưởng nước ngoài thì chẳng mấy người biết đến và khi đem chiếu ở thị trường thường lỗ trắng tay, xuất chiếu vắng tanh.

Kim Ki-Duk được đào tạo để trở thành hoạ sĩ, ông từng học mỹ thuật tại Montpellier (Pháp). Nhưng khi về nước, ông chọn làm nghề đạo diễn. Trong đại dịch Covid toàn cầu, ông qua đời tại Riga, Latvia khi mới 59 tuổi, do biến chứng của COVID-19. 

Ông làm khoảng 25 phim, trong đó có 10 phim đáng xem nhất: Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring (2003), Xuân, Hạ, Thu, Đông… rồi lại Xuân. 3-Iron (2004), Căn nhà trống. Pietà (2012). The Isle (2000), Hòn đảo. Samaritan Girl (2004) Cô gái Samaritan. Bad Guy (2001), Gã tồi. The Bow (2005), Cây cung. Breath (2007)Hơi thở. Address Unknown (2001) Địa chỉ không xác định. Arirang (2011).

Trong danh sách này có 3 phim Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring thể hiện phía thiền định, nhân quả và chu kỳ đời người, 3-Iron thể hiện tài kể chuyện bằng im lặng và hình ảnh, còn Pietà là sự tàn nhẫn, tội lỗi, tình mẫu tử và chuộc tội của thế giới Kim Ki-duk.

Tôi xem phim Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring rất nhiều lần và nghĩ rằng phim rất đáng xem nếu ai quan tâm đến Phật giáo và thiền.

Cho đến giờ sau 23 năm bộ phim ra đời, theo tôi Phim Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring là tác phẩm cô đọng rõ nhất thế giới điện ảnh của Kim Ki-duk. Bối cảnh chỉ có một ngôi chùa nhỏ bé nổi giữa hồ, khung cảnh tuyệt đẹp qua bốn mùa của đất trời, một nhà sư già, một chú tiểu và bốn mùa tuần hoàn. Hạn chế lời thoại, nhưng cả một đời người được kể qua xuân, hạ, thu, đông rồi lại xuân. Qua tiến trình của bộ phim, con người cứ tưởng mình đang đi về phía trước, nhưng nhiều khi lại quay về đúng nơi mình đã bắt đầu. Từ một chú tiểu vô tư, hồn nhiên làm chuyện ác tiến dần vì dục vọng, tình yêu, chiếm hữu, tội lỗi, trừng phạt, tu tập và cuối cùng một thế hệ khác tiếp tục tuần hoàn như bốn mùa của trời đất. Trong khi đó, cái hồ vẫn vậy, ngôi chùa vẫn vậy, chỉ con người sinh ra, phạm lỗi, đau khổ rồi tan biến để một thế hệ khác tiếp nối, luân hồi.

Xem Xuân, Hạ, Thu, Đông… rồi Xuân tôi nghĩ phim không chỉ kể lại cốt truyện, mà có thể đi từng mùa để giải mã những biểu tượng rất đẹp: con cá, con ếch, con rắn, hòn đá buộc vào người, cánh cửa không có tường, chiếc thuyền, mặt hồ và pho tượng Phật trên đỉnh núi. Khi đọc những biểu tượng ấy theo tinh thần Phật giáo, bộ phim sâu hơn rất nhiều so với câu chuyện nhìn thấy trên màn ảnh.

Tuy Perfume và phim của Kim Ki-Duk không giống nhau về phong cách, nhưng chúng có một điểm gặp nhau khá thú vị, đó là đều khiến người xem bước vào một thế giới có logic riêng, hơi xa lạ với cách kể chuyện điện ảnh thông thường.

Với Kim Ki-Duk, những quan điểm của Phật giáo như nghiệp, dục vọng, vô thanh, sự cô đơn , chu kỳ sinh diệt được trình bày chúng theo một cách rất khác. Nhân vật ít nói, đôi khi gần như không nói, hành động có lúc cực đoan, nhiều tình tiết không được giải thích mà chỉ được đặt trước mắt người xem như một biểu tượng. Khi xem phim ta có cảm giác đang xem một câu chuyện rất Thiền nhưng cách Kim Ki-Duk kể lại không giống phim Phật giáo hay phim luân lý quen thuộc. Ông không giảng rằng đây là nghiệp, đây là tham ái, đây là quả báo. Ông chỉ cho đứa trẻ buộc đá vào cá, ếch và rắn; rồi vị sư già buộc một hòn đá vào lưng nó. Không cần diễn giải dài dòng, người xem tự cảm thấy sức nặng của hành động mình gây ra cho một sinh vật khác.

Một biểu tượng nữa cũng mang phong cách của Kim Ki-Duk là cánh cửa trong ngôi chùa nhưng hai bên cửa lại không có tường. Về vật lý, người ta hoàn toàn có thể bước vòng qua. Nhưng các nhân vật vẫn đi qua cửa. Một vật rất đơn giản bỗng trở thành hình ảnh gợi suy nghĩ về giới hạn, kỷ luật và những cánh cửa do chính con người đặt ra trong tâm thức.

Liên tưởng của tôi từ Perfume sang Kim Ki-Duk, theo tôi đó là sự liên tưởng rất tự nhiên. Tom Tykwer làm cho chúng ta cảm thấy một mùi hương mà màn ảnh không thể truyền tải. Kim Ki-Duk lại khiến chúng ta nghe thấy những điều sâu xa mà nhân vật không cần phải nói.

Có lẽ đó là phẩm chất chung của những bộ phim lạ mà hay. Sau khi câu chuyện kết thúc, bộ phim vẫn chưa kết thúc trong đầu người xem.

Sài Gòn vẫn mãi mưa. Một ngày lại sắp trôi qua. Một ngày sẽ không bao giờ lặp lại nữa, nhưng những bộ phim hay vẫn còn đó. Mãi mãi.


Saigon. 

Chủ nhật 4.10.2026

DODUYNGOC






Trước năm 1975 và hơn chục năm sau đó, các rạp chiếu phim ở miền Nam đều có người chuyên vẽ panneau để giới thiệu phim đang chiếu. Riêng ở Sài Gòn trước 1975, theo thống kê chưa đầy đủ đã có khoảng 75 rạp chiếu phim. Ngoài những rạp lớn như Rex, Eden, Quốc Tế, Lê Lợi, Vĩnh Lợi, Khải Hoàn, Thăng Long hay những rạp ở Đakao, Bà Chiểu, Chợ Lớn… thuê riêng người vẽ, các rạp nhỏ hơn thuê từng phim một, hoặc hợp đồng với người vẽ vẽ thêm cho rạp mình.

Vẽ panneau cho phim không phải ai biết vẽ là vẽ được. Đó là một loại hội họa đặc biệt, từ quen tay, qua quá trình rèn luyện mà thành chứ không có trường lớp nào dạy cả. Hồi mới vào Sài Gòn những năm đầu 70 của thế kỷ trước. Đời sống khó khăn của một thanh niên không có ai trợ cấp, phải kiếm việc vừa làm vừa đi học. Cứ nghĩ bản thân cũng có thời gian học mỹ thuật, vẽ panneau chắc cũng không khó nên xin vào rạp vẽ panneau phim. Đó là thất bại đầu đời của tôi. Lâu nay quen với khung bố nhỏ, cọ nhỏ, sơn dầu, màu nước. Giờ đứng trước khung vải rộng mấy thước, cây cọ nào cũng to đùng. Có cái như cái chổi, cái nhỏ nhất cũng lớn hơn cả bàn tay. Chất liệu là bột màu với a dao hôi kinh khủng. Lúc đấy mới thấy mình bất tài. Trong khi người thợ chính vung cọ vun vút, tôi chỉ biết đứng ngó. 

Không phải cứ học qua mỹ thuật, biết hình họa, biết vẽ chân dung, biết chọn lựa màu sắc là có thể vẽ được. Vẽ tranh, người hoạ sĩ có nhiều thời gian suy tưởng, định hình phong cách cho tác phẩm. Vẽ panneau xi nê khác hoàn toàn, bề mặt tranh lớn, đường cọ phải nhanh nhưng bắt buộc phải giống nhân vật. Thần sắc, bố cục, màu mè phải tác động đến thị giác của người qua đường. Trên diện tích khổng lồ, chỉ cần sai một chút về tỷ lệ, khuôn mặt quen thuộc của một minh tinh có thể trở thành một người hoàn toàn khác. Và như thế panneau đó thất bại.

Vẽ tranh đường nét tỉ mỉ, nét cọ tinh tế. Panneau là vẽ từng mảng, người vẽ chỉ phác sơ nét chính, sau đó là múa cọ. Đứng gần chỉ thấy khối, bệt màu lẫn lộn, nhưng nhìn từ xa chân dung khuôn mặt tài tử hiện rõ với những đặc điểm không lẫn vào đâu được. Panneau xi nê đứng ở khoảng giữa hội họa chân dung, minh họa, quảng cáo và nghệ thuật sân khấu.

Và tôi đã thất bại khi vừa bước vào nghề. Sau đó, nhờ hiền lành, dễ thương, chịu khó học hỏi, thấy rõ hạn chế của mình, các tiền bối cho phép tôi kẻ chữ vì tôi viết chữ khá đẹp he…he. Những năm cuối thập niên 90, Sở Văn Hoá kết hợp với Nhà Nghệ thuật Quần chúng TP, chiếu video bán vé. Hồi đó màn hình 100 inches mà người ta chen nhau mua vé đông nghẹt xem Võ Tắc Thiên và Bao Công. Tôi lại làm công việc giới thiệu phim nhưng không vẽ mà chỉ viết tên phim. Cũng một loại panneau nhưng chẳng có chút nghệ thuật nào. Cũng a dao, bột màu như xưa nhưng không vẽ hình. Kiếm tiền nuôi vợ con trong thời buổi khó khăn thôi.

Hồi bé ở Đà Nẵng, tôi cũng mê xem phim. Nhưng thú thật các rạp ở Đà Nẵng không có người vẽ đẹp. Những rạp Lido, Kinh Đô và nhiều rạp khác nữa ở thành phố đó không gây cho tôi chút ấn tượng nào.

Có thời ra Huế học. Huế thời đó có mấy rạp chiếu phim: Rạp Châu Tinh trên đường Chi Lăng (Khu vực Gia Hội). Rạp Hoàn Mỹ cũng nằm trên đường Chi Lăng. Rạp Hưng Đạo lớn với chỗ ngồi rộng rãi và đẹp. Rạp Tân Tân trước mặt chợ Đông Ba. Trước đó còn rạp Z96 và rạp Morin. Và còn mấy rạp nhỏ nữa quên mất tiêu rồi. Ở rạp Châu Tinh có anh Lê Vinh vẽ rất đẹp, nhân vật rất có thần thái mà màu sắc cũng rất bắt mắt.

Thời thanh niên, nhiều diễn viên, tài tử nổi tiếng đóng phim được chiếu ở các rạp miền Nam. Tôi mê mẩn trước những panneau vẽ họ đến nhập tâm những đường nét, đặc điểm của từng nhân vật. Đó là Paul Newman với đôi mắt xanh. Gregory Peck điềm đạm. Yul Brynner cái đầu cạo trọc không thể lẫn với ai. Steve McQueen lạnh lùng. Anthony Quinn thô ráp, dữ dội mà đầy sức sống. Omar Sharif với ánh mắt buồn của Doctor Zhivago. Rồi Alain Delon, một vẻ đẹp gần như hoàn hảo nhưng nhìn hơi nữ tính. Còn có Charles Bronson: nhân vật rất đàn ông. Ông không đẹp theo cách Alain Delon. Khuôn mặt ông gân guốc, xương xẩu. Đôi mắt nhỏ, ít cười. Ông có vẻ như chẳng cần nói gì nhiều nhưng hành động diễn xuất của ông thu phục trái tim người thanh niên có mộng giang hồ.

Trong The Magnificent Seven, người Sài Gòn quen gọi Bảy tay súng oai hùng, Bronson đứng bên cạnh một dàn tài tử mà chỉ cần kể tên cũng đủ làm sống lại cả một thời: Yul Brynner, Steve McQueen, James Coburn, Robert Vaughn, Horst Buchhol, đến những phim hài của Louis de Funès, Anthony Quinn và “Giờ thứ 25” rổi Ryan O’Neal và Ali MacGraw trong phim Love Story. Những diễn viên Pháp như Jean Gabin, Jean Marais, Bourvil, Jean-Paul Belmondo, Alain Delon, Brigitte Bardot, Jeanne Moreau, Catherine Deneuve, Romy Schneider…

Và đặc biệt Once Upon a Time in the West.Trong bộ phim ấy lại có Charles Bronson. Đó là người đàn ông lạnh lùng bí ẩn với cây kèn harmonica. Đã hơn 60 năm rồi, trong tôi tiếng kèn đó vẫn còn vang trong ký ức và hình Charles Bronson trên tấm panneau vẫn còn mãi trong mắt.

Đến khi phim võ hiệp Hồng Kông, Đài Loan tràn ngập các rạp. Những tên tuổi mới của Châu Á xuất hiện, đó là Vương Vũ. Trịnh Phối Phối. Khương Đại Vệ. Địch Long. Nhạc Hoa. La Liệt…Loại phim này hấp dẫn người xem. Không còn súng nổ, ngựa phi, không còn những mối tình lãng mạn. Những phim của hãng Shaw Brothers đưa người xem vào một thế giới của ân oán, môn phái, huynh đệ, báo thù, những quán rượu ven đường và những kiếm khách cô độc. 

Và Lý Tiểu Long. Võ thuật trên phim thay đổi. Panneau giới thiệu phim cũng thay đổi. Thay vì súng là gươm đao, thay vì ngựa phi là phi thân, vũ khi là quyền cước, là chưởng, là thế đòn. Panneau thay đổi trang phục và nét mặt nhân vật. Người vẽ panneau cũng theo trào lưu.

Rồi thời thế đổi thay, những panneau vẽ tay dần dần biến mất nhường chỗ cho những poster in bằng kỹ thuật số. Dĩ vãng trôi đi, ký ức tồn đọng một thời của những panneau xi nê nặng mùi a dao trên khung bố chồng nhiều lớp sơn. Nhớ lại những panneau thời ấy như một triển lãm hội hoạ ngoài trời được thay đổi theo từng bộ phim. Tôi nghĩ đó cũng là một loại hình nghệ thuật. Tuy không lớn lao, tác giả cũng không ký tên, không lưu giữ. Hết phim người ta dùng bàn chải chùi rửa và vẽ nội dung một phim mới. Tác phẩm được xoá đi, người tạo ra nó cũng bị lãng quên.

Không có ai nghĩ những panneau quảng cáo phim lại là những di sản một thời. Đến khi những tấm quảng cáo phim vẽ tay ấy không còn nữa chúng ta mới tiếc nuối một loại hình mỹ thuật đường phố đã biến mất.

Nhưng ở Ấn Độ, vẫn còn những người giữ nghề vẽ panneau xi nê. Họ không vẽ cho rạp chiếu phim, họ hình thành một thị trường chuyên phục hồi vẽ affiche, panneau bằng tay, thường là những phim của Bollywood ngày xưa. Họ vẽ và bán cho người sưu tập, những người tìm lại cảm giác điện ảnh xưa. Giá cũng không hề rẻ.

Tiêu biểu là họa sĩ Kafeel Ahmed Ansari, ông đã hơn tuổi 70, ở khu Old Delhi. The Indian Express vừa có bài tháng 6. 2026 về ông, gọi ông là một trong những người đang gìn giữ nghề vẽ Bollywood hoarding và poster bằng tay khi kỹ thuật in kỹ thuật số đã khiến cả một thế hệ họa sĩ loại này gần như mất nghề. Ông vẫn vẽ bằng tay, theo phương pháp của những người thợ quảng cáo cinéma ngày trước. Ông cũng nhận đặt hàng theo phim xưa và cũng có thể vẽ chân dung người đặt hàng trong bối cảnh của những phim cũ. Và cũng theo báo, ông làm ăn có vẻ khấm khá. Ở Mumbai cũng có Indian Hippy⁠, thành lập từ năm 2009 với mục đích tập hợp một số họa sĩ vẽ panneau phim. Và đã có hàng ngàn đơn đặt hàng. Rất tiếc ở Việt Nam ta không có loại hình đó để nhiều người nhớ lại một thời đã qua đi không trở lại.

Hôm nay Sài Gòn mưa. Mưa cả tuần nay. Nước ngập lênh láng mọi ngả đường. Có một lão già U80 ngồi xem phim trên Netflix, trên YouTube. Xem đến phim của mấy anh Tàu làm bằng công nghệ AI. Chợt nhớ những phim cũ cách đây mấy chục năm. Nhớ đến ngày thất bại khi bắt đầu xin vào vẽ panneau. Nhớ rất nhiều diễn viên tài danh của một thời không còn nữa, nhớ những người thợ vẽ dạy những nhát cọ đầu tiên trên khung vải rộng mênh mông. Thời gian đi nhanh quá! Nhớ lúc tóc còn xanh vụng về với đống bột màu, nhớ những đêm thức trắng học vẽ với những người nghệ sĩ vô danh. Đa số họ đều nghèo với đàn con. Mong sẽ gặp lại ở đâu đó dấu vết của người xưa, tàn tích còn sót lại tấm panneau của một thời. Tất cả chỉ là ký ức.

Saigon. 2.10.2026

DODUYNGOC

Tình Ca Trong Thơ Đỗ Duy Ngọc

MỘT CUỘC RONG CHƠI – PHẦN 2

TÌNH CA TRONG THƠ ĐỖ DUY NGỌC

Một người đi qua những mùa nhớ

LỜI GIỚI THIỆU

Đây không phải là một chương trình kể về một cuộc tình cụ thể.
Đây là câu chuyện của một người đàn ông đã đi qua nhiều năm tháng, một ngày chợt ngoảnh lại và nhận ra:
Có những người tưởng đã quên.
Có những mùa tưởng đã qua.
Có những thành phố tưởng chỉ còn là địa danh.
Nhưng tất cả vẫn nằm đâu đó trong ký ức.

Sáu ca khúc là sáu lát cắt của một câu chuyện.
Không nhất thiết phải có một kết thúc có hậu.
Bởi có những tình yêu đẹp chính vì chúng đã trở thành ký ức.

❧ ❦ ☙
MỞ ĐẦU: “CÓ NHỮNG NGƯỜI…”

Có những người đi qua đời ta rất lâu rồi.
Lâu đến mức chúng ta tưởng rằng mình đã quên.
Có những con đường đã nhiều lần thay đổi.
Có những thành phố không còn giống ngày xưa.
Có những địa danh chỉ còn lại trong trí nhớ.

Nhưng kỳ lạ thay…
Chỉ cần một lần trở lại,
một con đường cũ,
một dòng sông,
một góc phố,
một mùa nào đó…
cũng đủ làm một người đã ngủ yên trong ký ức bỗng thức dậy.

Có lẽ tình yêu là như vậy.
Nó không nhất thiết phải còn ở bên cạnh ta.
Đôi khi nó chỉ cần còn ở trong ký ức.
Và đêm nay, chúng ta thử đi tìm một người như thế.
Không biết người ấy đang ở đâu.
Không biết còn nhớ hay đã quên.
Chỉ biết rằng…
có một người đã trở về.
Và câu hỏi đầu tiên anh muốn hỏi là:
“O ở mô rồi?”

1. O Ở MÔ RỒI?
❧ ❦ ☙
TỪ HUẾ ĐẾN SÀI GÒN

Có những người không tìm thấy nhau.
Nhưng những nơi từng có họ thì vẫn còn.
Một con đường.
Một dòng sông.
Một cây cầu.
Một góc phố.
Một thành phố.

Ta đi qua những nơi ấy, và tưởng rằng mình chỉ đang đi qua một địa danh.
Nhưng thật ra…
ta đang đi qua ký ức.

Có lẽ mỗi người trong chúng ta đều có một thành phố như thế.
Một nơi chỉ cần nghe tên…
lòng đã chùng xuống.
Với người này có thể là Huế.
Với người khác có thể là Hà Nội.
Hay một miền quê rất xa.
Còn với chúng ta, có lẽ đó là Sài Gòn.

Sài Gòn của những ngày còn trẻ.
Sài Gòn của những cuộc gặp.
Sài Gòn của một người đã từng đứng đâu đó trong đời mình.
Và có lẽ…
Sài Gòn cũng có mùa đông.

2. PHỐ SÀI GÒN CŨNG CÓ MÙA ĐÔNG
❧ ❦ ☙
KHI KÝ ỨC TRỞ THÀNH MỘT BÀI THƠ

Có những tình yêu không kết thúc bằng một lời chia tay.
Nó chỉ lặng lẽ rời khỏi đời nhau.
Mỗi người đi một hướng.

Rồi năm tháng trôi qua.
Mười năm…
Hai mươi năm…
Ba mươi năm…
Ta sống những cuộc đời khác.
Có những niềm vui khác.
Những nỗi buồn khác.
Những người mới bước vào cuộc đời.

Nhưng ở một góc rất sâu trong lòng mình,
vẫn có một câu chuyện chưa bao giờ thật sự kết thúc.
Một câu chuyện cũ.
Một người cũ.
Một tình yêu cũ.
Và có lẽ, sau nhiều năm,
người ta mới đủ bình thản để gọi nó bằng cái tên giản dị nhất:
một bài thơ tình cũ.

3. BÀI THƠ TÌNH CŨ
❧ ❦ ☙
CÓ NHỮNG NỖI BUỒN KHÔNG AI NHÌN THẤY

Ba mươi năm…
Đủ dài để tóc thay màu.
Đủ dài để những người từng rất quen trở thành xa lạ.
Đủ dài để người ta học được cách sống bình thản với những điều đã mất.

Nhưng có một điều con người không giỏi lắm:
Đó là nói thật với chính mình.
Có những lúc ta vẫn nhớ.
Nhưng lại bảo rằng không nhớ.
Vẫn buồn.
Nhưng lại mỉm cười.
Vẫn muốn biết người ấy sống thế nào.
Nhưng lại tự nhủ rằng chẳng còn quan tâm.

Và rồi có một câu nói rất quen thuộc được thốt ra…
nhẹ như không:
“Anh chẳng buồn đâu.”

4. ANH CHẲNG BUỒN ĐÂU
❧ ❦ ☙
CÂU HỎI KHÔNG CÓ CÂU TRẢ LỜI

Có lẽ nếu thật sự không buồn,
người ta đã không cần phải nói rằng mình chẳng buồn.
Có những câu nói càng nhẹ…
thì phía sau nó càng nhiều điều chưa nói.

Nhưng rồi một lúc nào đó,
con người không còn muốn giấu nữa.
Không muốn tự thuyết phục mình nữa.
Không muốn nói rằng mọi chuyện đã qua.
Chỉ còn một câu hỏi.
Một câu hỏi rất đơn giản.
Nhưng có lẽ là câu hỏi khó nhất mà một người có thể hỏi người mình từng yêu:

Nếu chúng ta đã xa nhau lâu như vậy…
Nếu những năm tháng ấy đã đi qua…
Nếu em đã có một cuộc đời khác…
thì…
em có còn nhớ anh không?

5. XA NHAU RỒI EM CÓ NHỚ ANH KHÔNG
❧ ❦ ☙
TRỞ LẠI

Có những câu hỏi không bao giờ có câu trả lời.
Và có lẽ…
đến một lúc nào đó, ta cũng không còn cần câu trả lời nữa.
Bởi điều quan trọng không còn là người ấy có nhớ mình hay không.

Điều quan trọng là:
Ta đã từng yêu.
Đã từng có một người khiến tuổi trẻ của mình trở nên đẹp hơn.
Đã từng có những ngày mà chỉ cần một ánh mắt cũng đủ làm lòng vui.
Đã từng có một câu chuyện mà nhiều năm sau, khi nhớ lại, ta vẫn mỉm cười.
Thế là đủ.

Rồi một ngày…
ta trở lại.
Không phải để tìm một người.
Không phải để níu một tình yêu.
Không phải để đòi lại những năm tháng đã mất.

Ta trở lại…
để nhìn lại chính mình.
Nhìn người đã từng là mình của ngày xưa.
Nhìn những con đường đã đổi thay.
Nhìn những người đã đi xa.
Và bình thản nhận ra:
Có những thứ trong đời không thuộc về hiện tại.
Nhưng chúng vẫn xứng đáng được nhớ.
Bởi chính những điều ấy đã làm nên con người chúng ta hôm nay.

Và có lẽ…
sau tất cả,
trở lại không phải là quay về quá khứ.
Mà là trở về với chính mình.

6. TRỞ LẠI
❧ ❦ ☙
LỜI KẾT

“MỘT NGƯỜI, MỘT CUỘC TÌNH, MỘT KHOẢNG ĐỜI”

Có lẽ tình yêu đẹp nhất…
không phải là tình yêu ở lại mãi mãi.
Mà là một tình yêu,
dù đã đi qua,
vẫn khiến ta trở thành một con người tốt hơn.

Sáu bài hát vừa rồi có thể là câu chuyện của một người.
Nhưng cũng có thể là câu chuyện của rất nhiều người.
Một người đã từng yêu.
Một người đã từng chờ.
Một người đã từng chia xa.
Một người đã từng quay lại.
Và một người cuối cùng hiểu rằng:
Không phải tất cả những gì mất đi đều là mất mát.

Có những thứ mất đi… để trở thành ký ức.
Có những người rời khỏi cuộc đời… để ở lại trong một góc rất riêng của tâm hồn.
Có những mùa đã qua… nhưng chỉ cần một giai điệu vang lên, ta lại thấy mình của ngày ấy.

Có lẽ đó cũng là điều kỳ diệu của thơ.
Và của âm nhạc.
Một câu thơ có thể nằm yên trên trang giấy nhiều năm.
Nhưng khi được cất lên thành một giai điệu,
nó lại có thể đánh thức một người mà ta tưởng mình đã quên.

Đêm nay, chúng ta không tìm câu trả lời cho những chuyện tình cũ.
Chúng ta chỉ ngồi lại một chút…
nghe những giai điệu ấy…
và để mỗi người tự nhớ về một người của riêng mình.
Có thể là một người đang ở bên cạnh.
Có thể là một người đã rất xa.
Hoặc có thể… chỉ còn lại trong ký ức.

Nhưng dù ở đâu, xin hãy cảm ơn họ.
Bởi đã từng xuất hiện trong cuộc đời chúng ta.
Đã từng làm cho một đoạn đời trở nên đẹp hơn.
Và đã từng để lại một câu chuyện…
mà nhiều năm sau, ta vẫn muốn kể lại bằng âm nhạc.

Xin cảm ơn quý vị đã cùng chúng tôi đi qua một mùa nhớ.
Và nếu đêm nay,
trong một giai điệu nào đó,
quý vị chợt nhớ đến một người…
thì có lẽ…
người ấy cũng chưa bao giờ thật sự rời khỏi câu chuyện của quý vị.


```

```

Đến hôm nay là tròn đúng một tháng tui ở ẩn. Ở ẩn quanh quẩn trên chiếc giường vì bị cứng cơ lưng chứ không phải ẩn tu. Bởi tui không có căn tu, còn là phàm nhân, không đi tu nên làm gì có chuyện ẩn tu. Lý do là vì bịnh nên chẳng đi đâu được. Trong khoảng thời gian ấy, có một lần chống gậy đi họp mặt bạn bè mừng một người bạn từ xa về, ngồi gần hai tiếng về cái lưng đau nặng hơn nên sợ quá, cắm trại trăm phần trăm luôn. Nằm suốt tháng nhưng chẳng viết được chữ nào dù ngoài kia đang lắm chuyện xảy ra làm rung động cả xã hội và lòng cũng ngổn ngang trăm mối.

Thật ra cái lưng bắt đầu đau từ đầu tháng 4, âm ỉ thôi. Tui bị gout nên uống khá nhiều thuốc giảm đau nên rất sợ ảnh hưởng đến thận. Thấy đau lưng là lo nên đến bịnh viện Tâm Anh khám và xét nghiệm. Bác sĩ xem kết quả bảo thận chú còn rất tốt như tuổi năm mươi. Nghe cũng mừng, bớt một mối lo liền rủ người em thường gắn bó với tui qua nhiều chuyến đi ra Đà Nẵng chơi kết hợp gặp gỡ bạn bè thời trung học nhân ngày hội trường thường niên. Cận ngày, vé máy bay hiếm mà giá cao quá nên quyết định đi xe lửa. Đi rồi mới thấy đó là chọn lựa sai lầm. Thời gian đó chưa xuất hiện toa tàu du lịch Sài Gòn-Đà Nẵng như bây giờ nên chuyến đi có nhiều điều không vừa ý. Phòng thì cũng được nhưng phục vụ kém, căn tin bụi bặm, trang bị nghèo nàn và xập xệ, phòng vệ sinh chật hẹp và cáu bẩn, những chiếc xe bán hàng rao như thời bao cấp. Lại thêm cuộc hành trình kéo dài 18 tiếng đồng hồ lắc lư theo bánh xe nghiến trên đường tàu xình xịch chán ngắt. Đến nơi cái lưng lại đau nặng thêm nên đành trả vé tàu mua vé máy bay để trở vào dù giá quá xá đắt.

Về lại Sài Gòn được mấy tuần thì một đêm sau khi ngủ dậy tui không đứng lên được, cơ lưng đau như bị vọp bẻ, không chịu nổi. Khẩn cấp chạy vào Tâm Anh. Nhân viên bảo đau thế này không thể chờ khám được mà phải vào cấp cứu. Thế là vào cấp cứu. Trước tiên là phải đóng tiền, đương nhiên phải thế thôi. Sau đó là một loạt xét nghiệm, siêu âm, chụp hình, MRI... Riêng cái khoản MRI, tay bác sĩ trẻ báo 2 giá, nếu chờ chiều có kết quả thì hơn 3 triệu, nếu muốn có kết quả ngay thì hơn 4 triệu. Báo là thế nhưng anh ta khuyên nên chọn giá cao cho nhanh. Tui nói vừa xét nghiệm tuần trước cũng chính ở bịnh viện này nhưng người ta trả lời là chỉ cần ba ngày có thể kết quả đã thay đổi rồi nên cần xét nghiệm lại. Thì thôi, cũng đành chi tiền thôi. Tổng chi phí gần 9 triệu đồng. 

Đến trưa thì tất cả đã có kết quả. Hai ba ông bác sĩ xem và bàn với nhau gọi là hội chẩn. Tay bác sĩ trẻ thông báo với tui là nghi có một loại virus nào đấy xâm nhập vào hệ thống cột sống của tui gây đau. Anh gợi ý đến bốn, năm lần là phải nằm viện khoảng ba tuần để xem con virus ấy là gì hầu có phác đồ điều trị. Anh ta ra giá luôn là ba tuần chi phí là 170 triệu chưa tính tiền phòng. Tui thấy hơi sai sai về cái vụ virus và thấy hơi khó chịu với vụ đề nghị nằm lại với giá cao như thế. Tui bực mình đề nghị xin về, anh ta lại khuyên tui nên ở lại chữa trị vài lần nữa nhưng tui cương quyết đòi về. Thế là anh ta bắt tui ký một cái giấy với nội dung BS đề nghị nội trú nhưng bịnh nhân đòi về nên bịnh viện hoàn toàn không chịu trách nhiệm. Nghĩ cũng lạ, bịnh tuy đau nhưng bảo là không nguy hiểm tính mạng sao về phải ký giấy cam đoan. Doạ người yếu bóng vía đến thế cơ à? Vào bịnh viện mới thấy người khó khăn dính bịnh là không cách gì xoay xở. Khâu nào cũng tiền, cái khẩu trang, bình diệt khuẩn, cái bao tay của y tá, bác sĩ xử dụng cũng tính thành tiền bắt người bịnh trả. Tốt nhất là đừng để phải vào chốn ấy. Nhưng cuộc đời mà, sinh lão bịnh tử, bịnh như một quy luật khó tránh nên vào viện người ta tha hồ thu tiền mà chẳng thấy cảm thông khó khăn của người bịnh và bịnh nhân cũng chẳng bao giờ dám kêu ca, trả giá.

Về nhà, lê lết trên giường, nghĩ nhiều chuyện. Từ chuyện nhân tình thế thái đến chuyện phận số. Những thước phim của những đoạn đời được nhớ lại, nghĩ về những người đã qua cuộc đời mình và giờ nằm cô độc ở đây. Chờ đợi một lời thăm hỏi, một tin nhắn để lấy đó làm an ủi. Xem lại nhiều hình ảnh để nhớ về một thuở nào đó trong cuộc đời. Quẩn quanh với nhiều ý nghĩ. Nhìn ra những điều tốt đẹp của một người đầu trần chân đất đang đi trên con đường thiên lý. Nghiệm ra những luẩn quẩn của một kiếp nhân sinh. Cố lạc quan nhưng toàn bi quan trong ý nghĩ. Cố nén những cơn đau nhưng nó vẫn hiện diện ở thân thể, cũng đành chấp nhận thôi. Vui còn chia cho người, đau làm sao để sẻ cho ai?

Hằng ngày vẫn có thầy thuốc ở Bệnh viện Y học Dân tộc đến châm cứu, chạy điện, bó thuốc, thuỷ châm. Đã qua một tháng, lưng đau đã có phần thuyên giảm, mong sẽ trở lại bình thường để gặp gỡ bạn bè, để viết vài trang tào lao cho cuộc đời thêm tươi. Rất mong.

Bài viết này như là để trả lời mọi người cứ thắc mắc sao lâu rồi không thấy tui viết gì. Cảm ơn những tin nhắn, những lời thăm hỏi của bạn bè, những người thân quen và của những người tuy chưa gặp mặt nhưng có quan tâm đến tui. Xin cảm ơn.

Sài Gòn 7.6.2024

DODUYNGOC

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget