tháng năm 2021

Con tàu đi không có một sân ga

Cứ chạy mãi cho đến khi hết củi

Ta cũng thế suốt một đời lủi thủi

Biết ngừng đâu một mái ấm nương nhờ

Rất nhiều lần giữa ngõ vắng bơ vơ

Những ký ức ùa về như sóng vỗ

Bao cảnh biệt ly nhiều lần thống khổ

Thêm hành trang cho tàu mải miết đi

Năm tháng trôi không đọng lại chút gì

Tiếng còi hụ mỗi lần như nhắc nhở

Cửa này khép cửa kia vừa lại mở

Cuộc hành trình dẫn định mệnh về đâu?

Chuyện thế gian giống con vật đổi màu

Mang mặt nạ cuống cuồng bao vai diễn

Không có sân ga không lần đưa tiễn

Nước mắt nào gõ cửa một cơn mê

Con tàu đi không có chốn để về

Quê nhà khuất sau những làn mây trắng

Mẹ cha đâu, bạn bè xưa, nay vắng

Loanh quanh hoài tàu dừng lại nơi nao?

Trang chữ mòn bấc đã lụn dầu hao

Và sông suối cũng chẳng còn nước chảy

Ta cuối cùng ráng sức thêm bước nhảy

Rồi đi đâu ai biết sẽ là đâu?

31.5.2021

DODUYNGOC

Mộng khuya sương xuống trắng mờ

Lao đao thân phận bên bờ tử sinh

Đôi khi nhìn lại giật mình

Tóc kia đã bạc cuộc tình vĩnh ly

Trăm năm chỉ một hạn kỳ

Chẳng còn duyên phận lấy gì đợi nhau

Người đi qua để lại đau

Mắt buồn như lá úa màu thời gian

Nửa đời chịu mấy gian nan

Bấy nhiêu sót lại đầu hàng buông tay

Môi chịu đắng mắt còn cay

Tình bay theo gió không say vẫn rầu

Bây giờ nước đã qua cầu

Mây bay tứ xứ nỗi sầu hoá rêu

Nửa khuya cất một tiếng kêu

Đâu hay người vẫn mỹ miều phấn son

Ta nằm nhìn thịt da mòn

Đọc trang kinh ngộ đời còn chi đâu

Bao năm cứ tưởng là lâu

Chẳng qua như nắng thay màu mà thôi

Ta giờ thấm nỗi mồ côi

Chờ thiên thu gọi qua đồi mất tăm

Chút từ bi xoá hờn căm

Xô chăn chiếu rụng nhìn trăng gọi người

29.5.2021

Mùa dịch vật

DODUYNGOC

 


Một đời tôi trốn chạy

Nửa đời tôi kiếm tìm

Tôi thu mình tôi lại

Rồi bay mãi như chim

Nhiều lúc tôi nằm im

Nhìn mây về dưới phố

Lắm lúc nghe nhịp tim

Đập tràn cơn hỷ nộ

Đi qua một đoạn đời

Chợt có lần ngoái lại

Đời như một cuộc chơi

Tôi luôn người thất bại

Lầm lũi trong cơn mưa

Băn khoăn về dưới nắng

Tôi tìm tôi năm xưa

Sao nghe lòng rất đắng

Tôi quỳ nơi chân Chúa

Đọng giọt máu tàn phai

Nhớ bàn tay của ai

Buồn như màu lá úa

Tôi đến đứng cổng chùa

Phật bỏ đi đâu mất

Tôi yêu người rất thật

Sao chỉ thấy biệt ly

Còn một đoạn đường đi

Bóng gầy như sen héo

Tôi làm kẻ ngu si

Mặc trần gian giày xéo

Tôi mang theo gì đâu

Thân gầy như phế tích

Đời còn có bao lâu

Cuộn mình trong tịch mịch

Viên sỏi buồn thôi lăn

Ngày hè sao thiếu nắng

Đêm rằm không ánh trăng

Chỉ mình tôi rất vắng

Có một nỗi tuyệt vọng

Đau hơn lưỡi dao đâm

Có cái chết nẩy mầm

Ngấm ngầm trong đau khổ

Đi về phương tuyệt lộ

Lại ngộ ra nhiều điều

Khi giã biệt tình yêu

Tôi chỉ còn một nửa

26.5.2021

DODUYNGOC


Ừ thì mưa đi, mưa cho trôi hết đi

Ta nằm im chẳng nghĩ được chuyện gì

Tình mới đó chắc sót nhiều dấu vết

Hằn như những vết chai 

Nước mưa tràn cuốn sạch dấu ai

Thế giới như đứng yên con người dừng lại

Mặt trời nhợt nhạt trưa giống hoàng hôn

Ta đọc nhiều tin thấy bỗng hoảng hồn

Thời thế chi lạ rứa?

Tới tuổi người như cây hết nhựa

Mối tình nào đã qua còn vết sẹo khó phai

Ta nhớ cửa ngõ nhà ai

Những cửa sổ suốt đời không mở

Ừ thì mưa đi mưa cho hết cỡ

Nhà chẳng trồng hoa nên chẳng sợ hoa không nở

Ta biết người đang có nụ cười duyên

Với cuộc tình kế tiếp

Ờ thì yêu đi cho hết kiếp

Ta muốn mưa để được ở truồng tắm gội

Rũ cho sạch những dấu vết còn sót trên ngực trên tay

Của một thời đắm say

Nhân loại bịt mặt chào nhau

Loài người không đụng chạm chỉ nhìn nhau bằng đôi mắt

Chiến tranh mà chẳng thấy ai là giặc

Thật buồn cười

Thế giới chết như rươi

Không còn củi để thiêu không còn nơi để lấp

Mưa chiều này không đủ to để ngập

Sao ta lại như bơi trong biển rộng thế này

Có ai biết chẳng ai hay

Muốn mượn rượu để say mà không biết uống

Muốn quên hết chỉ còn thân mục ruỗng

Chiều chiều lại nhớ chiều chiều

Tưởng quên được rồi sao lại nhớ chi lạ rứa.

Căn phòng trống ta gọi mãi chẳng ai thưa.

Mưa.

24.5.2021

DODUYNGOC

 


1.

Ta còn chi chỉ bài thơ thiếu nắng

Những vần thơ đọc đắng cả vành môi

Đời trôi xuôi ta đi ngược chân đồi

Làm trăng héo bên hiên nhà rất vắng

2.

Ta còn chi sẹo trượt dài vết bắn

Đèn khô dầu bấc đã cháy thành than

Ai thắp lên ánh lửa trước khi tàn

Tim nhức buốt tiếng kêu chiều vọng lại

3.

Ta còn chi kim đồng hồ quay mãi

Níu thời gian ta làm chuyện phí hoài

Đã bao lần lỡ mở miệng mắc quai

Đành im lặng tránh làm người nói dối

4.

Ta còn chi cơn mưa dầm ướt tối

Đêm hắt hiu sương khói lặng lẽ về

Người bỏ đi ta một mình lẻ gối

Thấy bóng mình cô độc đến tái tê

5.

Ta còn chi núi đá lạnh cơn mê

Đi mải miết đường về sao bát ngát

Mỗi hơi thở mang thêm nhiều xơ xác

Phút đợi chờ lẫn khuất chốn mù sương

6.

Ta còn chi cờ phướng với tai ương

Và xương máu rợn lên từ bốn bể

Con chim mù bỗng buông lời kể lể

Vang giữa chiều đâm nát cả làng quê

7.

Ta còn chi khi thôn xóm ủ ê

Mồ hôi đổ trên lưng trần cháy nắng

Máu khô kiệt chỉ còn mang chất đắng

Ngửa mặt nhìn và hét với trời xanh 

8.

Ta còn chi những đau đớn trời dành

Ngựa mỏi vó đã biết mình thất lạc

Sao tự dưng trở thành người bội bạc

Nỗi đau nào xé ngực đứt làm đôi

9.

Ta còn chi máu đã héo đôi môi

Và nhung nhớ đã chứa đầy trong óc

Biết mai mốt còn bao ngày khó nhọc

Nỗi niềm xưa còn đọng đến bao giờ

10.

Ta còn chi tay đã lấm vết nhơ

Lá đã héo run chờ cơn gió tới

Ngày loanh quanh đêm co mình xó tối

Thương phận mình rồi xót kiếp long đong

11.

Ta còn chi ngồi lại giữa hư không

Nước ngừng trôi nước đứng lại giữa dòng

Chiều lạnh toát tiếng chuông nào âm ỉ

Lời yêu người vẫn sót ở đầu môi

12.

Ta còn chi câu kinh cầu sám hối

Quá yêu người ta lầm lạc đường ra

Suốt hành trình không có một sân ga

Làm hành khất cơm mong ngày đôi bữa

13.

Ta còn chi ngôi nhà xưa đóng cửa

Đứng bên này ta ngóng phía bên kia

Ta vẫn biết còn chi chờ đợi nữa

Sao trong tim vẫn sợ phút chia lìa.

14.

Ta còn chi đất nước phía bên rìa

Khua gươm giáo đầu rơi và máu đổ

Những con đường xếp dài bao nấm mộ

Nhiều phố phường chất chứa phận mồ côi

15.

Ta còn chi đã đến lúc đành thôi

Đời chật chội loay hoay hoài cũng mỏi

Đèn vụt tắt trần gian đầy bóng tối

Ta một mình chẳng biết phải về đâu?

19.5.2021

DODUYNGOC

 


Mỗi sáng cửa nhà nay khép lại

Người đi về phía cõi chân mây

Ta đứng đó lòng bao ái ngại

Mối tình đau sót lại chút này

Ly trà sớm giờ không bốc khói

Bông hoa tàn héo chẳng người thay

Ta ngồi đó buồn không muốn nói

Nỗi đau dài còn có ai hay

Nắng len lén lách qua cửa sổ

Chiếu vệt màu sáng một lối đi

Trang sách đắm bao lời khốn khổ

Lời kinh nào ứa nghẹn sầu bi

Ngõ rất vắng lá không muốn rụng

Con chó nằm ủ dột đợi trăng

Ta nằm ngửa đọc câu thơ vụng

Chiếu chăn thừa giường lạnh như băng

Thêm điếu thuốc bụng cồn cào gọi

Đâu còn ai mà đợi mà trông

Sợi khói mỏng bay về một cõi

Ta buông tay soi dáng lưng còng

Cửa vẫn đóng căn nhà chợt lạnh

Ta hắt hiu lên, xuống, đi, về

Những buổi sáng không người đứng cạnh

Suốt một ngày cứ mãi cơn mê

Ta vẫn biết người không ngoảnh lại

Lấy câu kinh lấp mất đường về

Rừng đã cháy biển không quằn quại

Ta suốt đời vẫn gã nhà quê.

13.5.2021

DODUYNGOC

 






Sài Gòn lúc trước có một quán phở bán suốt mấy chục năm mà chủ nhân không đặt tên quán. Một thời gian dài, quán đều do khách đặt tên. Đầu tiên là Phở Công Lý vì tiệm nằm trong hẻm đường Công Lý. Lúc đó Công Lý chưa đổi tên như bây giờ. Chứ nếu đặt tên theo kiểu này thì sẽ gọi là Phở Nam Kỳ Khởi nghĩa nghe dài dòng bỏ mẹ. Một thời gian sau, quán thường có đám khách thường xuyên là các sĩ quan Không quân. Thành ra quán được gọi là Phở Không Quân. Là lực lượng Không quân lái máy bay chứ không phải không quần nha, đọc lộn là hiểu nghĩa khác liền. Thời gian mang tên này ngắn ngủi vì sự xuất hiện một thực khách đặc biệt. Đó là tướng Nguyễn Cao Kỳ. Từ đó người ta gọi là Phở Ông Kỳ. Mà giờ ngồi nghĩ lại cha tướng Kỳ này gan thật chớ. Thời điểm đó ông ta đang là một tướng lĩnh Không quân của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, cấp bậc Thiếu tướng trước khi tham gia chính trường và trở thành Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa trong chính phủ quân sự từ năm 1965 đến năm 1967. Sau đó ông làm Phó Tổng thống cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và nghỉ từ năm 1971. Đường đường quan to như thế mà ông ta khi muốn ăn phở là tà tà đi vào quán ăn như khách bình thường, chẳng tiền hô hậu ủng chi cả. Lúc này Việt Cộng thường đặt bom, ám sát mấy ông lãnh đạo của miền Nam, thế mà cha này ung dung đi ăn phở đến độ người ta lấy tên ông đặt cho quán, nể thiệt, đúng là dân chơi không sợ mưa rơi. Một thời gian sau ông Kỳ vắng mặt ở quán, có lẽ bận công việc nên quán lại được khách ăn đặt một tên mới, Phở Trứng cá. Lý do là trước mặt quán có cây trứng cá, cây cũng chẳng lớn bao nhiêu nhưng cũng trở thành một đặc điểm cũng như Mì Cây Trâm, hay quán nhậu Cây Xoài vậy mà. Gọi cho nó cái tên thế thôi.

Sau năm 1975, quán phở vẫn tiếp tục bán nhưng thời gian đầu khách vắng hơn xưa vì cả xã hội đói nghèo, cơm còn không có ăn lấy tiền đâu mà chơi phở. Thời mở cửa, người ta giàu lên, cơm ăn áo mặc khá đủ đầy, quán phở này khách càng ngày càng đông. Dân miền ngoài lũ lượt kéo vô Nam, thèm tô phở Bắc liền tìm đến đây, thế là quán đông thêm nữa. Ngày trước công chức, sĩ quan là khách thường xuyên. Bây giờ là các nghệ sĩ, nhà báo, nhà văn và lớp cán bộ, doanh nhân, một số nữa là khách từ đàng ngoài. Quán tấp nập hẳn lên. Chính quyền gọi khu vực này là Khu phố 4, cho dựng một cái bảng to tướng chữ trắng nền xanh với chữ Khu phố 4 ngoài ngõ. Và từ ngày đó, quán mang tên là Phở Khu phố 4. Không nhớ cái bảng ấy có kèm câu Khu phố văn hoá không nữa, cái mốt của mấy ông tổ chức trị an bấy giờ là vậy mà. Một bữa đẹp trời, chính quyền không xài chữ khu phố đấy nữa và thay vào đó là bảng đề Hẻm 288. Tức là số 288 đường Nam Kỳ Khởi nghĩa và cũng từ đó quán có tên Phở Hẻm 288.

Đến lúc này, ông chủ Uông Văn Bình mới chính thức quyết định đặt tên cho tiệm phở lâu đời của gia đình mình. Ông chọn tên Dậu, một cái tên hết sức bình thường và dân dã. Quán bán phở bò nhưng đặt tên tuổi con gà he..he. Nó cũng có lý do của nó. Bà cụ thân sinh của ông Bình, người chủ đầu tiên của quán phở này sinh năm Tân Dậu 1921. Ông Bình, thế hệ thứ hai của quán cũng sinh năm con gà Ất Dậu 1945. Như vậy, quán phở mang tên Dậu hợp lý quá chứ còn chi nữa. Kể từ đó, quán Phở Dậu đã có tên do chủ đặt đàng hoàng và tên tuổi của Phở Dậu nức tiếng gần xa, ra tận nước ngoài.

Gia đình ông Uông Văn Bình quê ở làng Vân Cù, Nam Định, vùng đất nhiều người cho là khởi thuỷ của phở. Chuyện này người ta còn cãi nhau nhưng có một điều không cãi được là làng này có rất nhiều người là chủ tiệm phở từ Bắc chí Nam và cả nước ngoài. Di cư vô Nam năm 1954, ở loanh quanh khu vực Yên Đổ, Huỳnh Tịnh Của, vùng ngày xưa gọi là Bến tắm ngựa. Năm 1958, bà cụ thấy khu cư xá này có nhiều người Bắc di cư nên mở một quán phở nhỏ ở hẻm 288 này. Lúc đầu chỉ là một căn nhà lợp tôn, trên trổ một khoảng để lấy ánh sáng. Cho đến những năm đầu sau 1975, cấu trúc của quán vẫn thế, bàn ghế gỗ sơ sài, tô phở cũng bé hơn bây giờ. Khách vào ăn buổi sáng sẽ thấy luồng ánh sáng từ trên rọi xuống với những luồng khói từ bếp toả ra nhìn rất ư là nhiếp ảnh. Sau này đến đời ông Bình, quán được sửa sang bền đẹp hơn, lại có thêm căn nhà bên trái và khoảng sân phía trước để đáp ứng được khách càng ngày càng đông. Gần đây lại mua thêm mấy căn nữa chung quanh đấy, đế quốc phở Dậu càng ngày càng phát triển.

Tên tuổi và chất lượng của Phở Dậu bây giờ đã có nhiều người nói rồi. Đương nhiên đây là một món ăn cho nên cũng tuỳ khẩu vị của từng người. Tui biết nhiều khách ở rất xa, tận quận 7, hay Cát Lái hoặc Tân Phú mà cũng chẳng ngại đường xa, vẫn là khách trung thành của Phở Dậu. Nhưng có người không thích phở ở quán này. Tui có ông bạn cũng là tín đồ của đạo phở, nhưng ông chê Phở Dậu và chỉ khoái Phở Tàu bay. Chín người mười ý, biết nói sao giờ. Tuy thế người nào đã chịu phở ở đây thì sẽ như con nghiện, chỉ ăn được ở đây chứ không ăn được ở quán khác. Do vậy, nếu đã là khách thường trực người ta sẽ thấy những khuôn mặt quen thuộc, đi ăn riết thành quen. Mà khách thường xuyên ở đây cũng đặc biệt lắm, nếu chọn ngoài sân thì luôn luôn là ngồi ngoài sân. Chọn nhà bên trái thì đến nơi là quẹo vô đó. Như tui là khách từ lúc chỉ có căn nhà nhỏ chính diện nhìn ra ngõ thì chỉ ngồi ở đấy thôi, không thay đổi. Ông Bình chủ quán cũng hay lắm, lúc nào cũng quần áo chỉnh tề, áo bỏ trong quần như anh công chức thời xưa. Ông đứng ngoài tiếp khách, chỉ cần ghé ăn đôi ba bận là ông chủ sẽ nhớ mặt, nhớ số xe, thân mật như người quen lâu ngày gặp lại. Ông giản dị và gần gũi với khách dù ai cũng biết bán đông khách như thế này thì chắc chắn ông rất giàu, đúng thế mà. Với tính cách đó, khách đến ăn cảm thấy thân thuộc, vui vẻ để tận hưởng cái khoan khoái được ăn tô phở ngon như ý.

Phở Dậu ngon nhất cái nước lèo. Thanh mà đậm đà, beo béo, thơm thơm, trong veo. Tô phở bưng ra, khói toả lên một mùi thơm đặc biệt và theo nhiều người ăn phở lâu năm cho rằng hương vị ở đây rất khác, không giống quán phở nào. Nước lèo nấu theo kiểu Bắc, toàn xương ống róc hết thịt hầm rất lâu bởi lửa hừng hực, cộng với gừng nướng, quế, hồi, thảo quả. Gia vị ở chừng mực nên nước phở không hăng và vẫn thoang thoảng mùi bò. Mấy người dị ứng với bột ngọt sẽ không lo lắng khi ăn phở ở đây. Chắc là cũng có nêm cho dậy thêm mùi ngọt của thịt, của xương nhưng chắc chắn là không nhiều như bát phở miền Bắc. Ngày trước thịt ngon hơn giờ, có lẽ vụ này là quy luật chung, thịt bò bây giờ không bằng ngày trước. Miếng gầu xưa mỡ nó vàng ươm, nhai trong miệng nghe sần sật mà không dai, không nhão. Miếng nạm ngày trước cũng đậm đà, đúng chất bò. Miếng vè, miếng gân cũng thế. Đó là so với xưa chứ bây giờ thì thịt ở đây cũng khá hơn rất nhiều quán phở khác. Là quán phở Bắc nên quán không rau, không giá, không tương đen. Chỉ có tô hành tây cắt lát và chai tương đỏ. Hồi còn bà cụ bán, tương đậm chất Bắc, giờ tương đỏ không mùi ớt, không cay, ăn giống tương của mấy anh Tàu Chợ Lớn dùng cho mì và hủ tíu. Bởi thế khách sành ăn sẽ không khó chịu khi thấy bàn bên cạnh khi ăn cho rau giá, tương đỏ tương đen tú hụ như những quán phở miền Nam khác. Quán lại có món tiết, món tuỷ rất ngon. Ai yếu yếu, bệnh bệnh trong người hay bệnh mới dậy ăn chén tiết hột gà hay chơi thêm chén tuỷ có thể thấy mình sẽ khoẻ hơn một chút. Giá tô phở hôm nay ở quán này là 80.000 đồng. Kể ra theo mặt bằng chung, giá thế là khá cao, nhưng mà suy cho cùng tiền nào của nấy thôi, muốn ăn ngon thì phải tốn tiền. 

Thông thường khi viết về phở, nhiều người trích văn của ông Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Vũ Bằng để nhận định về phở. Theo tui, phở cái thời của mấy ông nhà văn ấy nó khác bây giờ. Hoàn cảnh khác, khẩu vị cũng khác, chất lượng lại càng khác nên khó mà đem ra để so sánh được. Thôi thì ăn tô phở hôm nay cứ nhận định theo thời thế hôm nay để thưởng thức phở của thế kỷ hai mươi mốt chứ không phải là phở của cái thời những năm đầu thế kỷ hai mươi hay cái thời phở mậu dịch không người lái thời bao cấp ở miền Bắc.

Phở Dậu có mặt ở Sài Gòn từ năm 1958, giờ cũng đã được hơn sáu chục năm. Đã đến đời thứ hai và đang chuẩn bị cho đời thứ ba kế thừa. Nó đã có một cái tên chính thức được bảo chứng, nó đã có tiếng trong lòng người ham món phở. Đã hơn năm chục năm làm khách với nó, tui cũng mong tương lai Phở Dậu vẫn là Phở Dậu để thực khách hàng ngày tìm tới thưởng thức một món ăn Việt Nam giờ đã trở thành món tiêu biểu trong thực đơn món Việt từ trong đến ngoài nước. Và từ Phở đã có mặt trong nhiều cuốn tự điển để giới thiệu với năm châu bốn bể một món ngon của Việt Nam. Cũng mong khi nhắc đến phở, người ta sẽ nhớ đến Phở Dậu.

8.5.2021

DODUYNGOC
















Sài Gòn nắng tháng tư như đổ lửa. Đường vắng vì bà con đi chơi lễ nhưng tui đây vẫn ngại ra đường, nằm trốn trong nhà. Bắt gặp trang face hay giới thiệu món ăn xứ Huế, chợt gặp lại con cá Kình, ôi chao! Lâu lắm rồi mới thấy lại con cá ni. Trời nắng nóng như ri mà có bát canh cá kình nấu ngót thì ăn tới đâu mát cái ruột đến đấy. Lại nhớ hồi xưa còn nhỏ ở Đà Nẵng, những bữa cơm có món cá kình nấu ngót, cá kình kho sả, cá kình nướng muối ớt, cá kình chiên, con cá tươi ngon, ăn với mấy chén cơm cũng còn thèm.

Cá kình là loài cá chuyên sinh sống trong môi trường nước mặn. Hương vị thịt của loài cá kình vô cùng chắc và ngọt. Các bà nội trợ rất thích chế biến loại cá này thành những món ăn cho gia đình.

Cá kình còn có tên gọi khác là cá dìa chấm vàng, cá bù nú. Cá kình có tên khoa học Siganus canaloculatus, đây là một dòng cá thuộc họ cá dìa. Loại cá này là dòng cá có kích thước nhỏ, sống trong môi trường nước biển. Thức ăn phổ biến của chúng là rong biển, rêu đá và các loài cỏ biển. Cá kình là loài cá nước mặn do vậy chúng có thể chịu được độ mặn cao. Trên thế giới, cá kình phân bổ chủ yếu ở các vùng biển thuộc Ấn Độ, Úc, Indonesia, Thái Lan, Nhật Bản, Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan.

Tại nước ta, cá kình biển phân bổ ở các khu vực thuộc vịnh biển Bắc Bộ. Đặc biệt, ở những vùng biển thuộc Quảng Ninh, Hải Phòng và Thái Bình. Người ta cũng có thể thấy nó xuất hiện ở bờ biển miền Trung tuy không nhiều. Ở Phá Tam Giang xứ Huế cũng có cá kình nước lợ cũng béo, ngọt thịt nhưng ít có cá lớn. Dân biết ăn bảo rằng con cá kình làng Chuồn là ngon nhất hạng.

Cá kình có phần đầu nhỏ, miệng tù đôi mắt trung bình và hơi lồi. Cá dìa có 1 dải vây lưng dài trải dài toàn bộ phần lưng của chúng. Phần dải vây lưng này khá cứng và có độc (nọc độc trong vây của cá không gây chết người, nhưng sẽ tạo ra cảm giác tê ở vùng bị đâm).

Gần mang cá có 2 vây chèo, vây vụng khá dài nối gần đến phần vây đuôi. Vây đuôi mở rộng giống hình cánh quạ. Cơ thể cá kình có màu vàng sáng, phần lưng có những chấm vàng đậm và phần bụng có màu trắng bạc. Toàn bộ những tia vây của cá kình có màu vàng sáng. Cá kình có thân hình giống với hình con thoi, dẹt về 2 bên. Phần thân trên của chúng dày mình và nhiều thịt hơn phần ở dưới đuôi. Khi trưởng thành cá kình có chiều dài khoảng 12 - 25 cm. Cân nặng thông thường của chúng vào khoảng 100 - 250 gram. Cũng có con lên đến cả kí lô. Cá kình bắt đầu chu kỳ sinh sản đầu tiên khi chúng đạt kích thước khoảng 18 – 20cm. Cá kình sống trong tự nhiên, chúng đẻ trứng ở hầu hết mọi thời điểm trong năm. Cá kình nuôi trồng thì chỉ đẻ trứng vào tháng 4 đến tháng 8 hàng năm. Trung bình, một lần sinh sản, cá kình cái có thể đẻ khoảng 200 – 230 nghìn trứng. Chúng thường đẻ trứng vào ban đêm và ở tầng mặt nước mỗi khi nước thủy triều xuống. Mùa cá kình thường vào khoảng tháng 10 đến tháng 1 năm sau.

Cá kình thịt ngọt, dai, chắc thịt ăn rất ngon. Bên cạnh đó, cá kình còn là một loại cá mang lại nhiều Omega 3 có lợi cho sức khoẻ và hỗ trợ chữa nhiều bệnh khác. 

Theo một nghiên cứu được công bố trên tạp chí American Journal of Cardiology, việc tiêu thụ cá kình thường xuyên có thể làm giảm nguy cơ bệnh tim đến mức đáng kể, vì các axit béo omega-3 có trong cá có thể giữ cho tim của bạn khỏe mạnh bằng cách giảm các chất béo trung tính, giảm đông máu và hạ huyết áp.

Một nghiên cứu được công bố trên tạp chí The Journal Of Psychiatry & Neuroscience cho biết các loại dầu có trong cá kình có thể giúp cải thiện mức độ hormone serotonin trong não, do đó có thể điều trị và giảm các triệu chứng trầm cảm.

Cá kình giữ cho xương khỏe mạnh vì Vitamin D là một chất dinh dưỡng thiết yếu cần thiết cho sức khỏe của chúng ta, đặc biệt là giữ cho xương khỏe mạnh và cải thiện chức năng của não. Con cá kình là nguồn cung cấp vitamin D tuyệt vời, nên việc tiêu thụ nó thường xuyên có thể thúc đẩy sức khỏe của xương.

Theo một nghiên cứu được tiến hành bởi Cơ quan nghiên cứu và chất lượng chăm sóc sức khỏe, các axit béo omega-3 trong cá kình được biết đến là cải thiện sức khỏe của mắt, bằng cách nuôi dưỡng các cơ và thần kinh của mắt.

Thịt cá kình ngon, béo lại có lợi cho sức khoẻ như thế thì còn đợi chi nữa, hãy mua vài con cá kình về làm một bữa cho nó sướng cái miệng và khoẻ cái thân,

Cá kình làm được nhiều món mà món nào cũng ngon. Loại cá này vô cùng đặc biệt có thể ăn được cả ruột, mật, gan. Những bộ phận này của con cá kình rất bùi, béo chứ không hề bẩn và đắng như các loại cá khác.

Ta có thể kho cá kình với thơm hoặc riềng, sả. Cũng có thể kho với me cũng rất ngon. Cá rửa sạch, cắt khúc hoặc để cả con tuỳ cá to nhỏ. Thịt heo cắt nhỏ chiên sơ qua. Ướp cá bằng hành, tiêu, nước mắm khoảng hai chục phút. Khi cá thấm, xếp lên trên thịt heo đã chiên sơ, thơm hoặc me hay sả tuỳ chọn. Để lửa liu riu trong khoảng ba tiếng, cá chín nhừ ngấm với gia vị thành một món ăn thơm phức, ngon lành. Nhớ khi kho bẻ vào mấy trái ớt đỏ. Món cá kình kho mang đậm hương vị làng quê và ăn ngon nhớ đời.

Trời nóng mùa hè, hãy nấu tô cá kình nấu ngót. Món ăn nghe có vẻ đơn giản nhưng ăn mới biết giá trị của nó. Cá làm sạch vây, không bỏ ruột, ướp muối, tiêu, hành nước mắm vừa phải. Rửa sạch thơm, cà, hành rồi cắt lát nhỏ. Cho dầu ăn vào nồi phi thơm hành hương, bỏ cà chua vào xào chín, tiếp đó cho thơm, măng chua, cho muỗng ớt bột với muỗng ruốc Huế, một lát thì cho nước vào nồi. Nước sôi ùng ục, cho cá đã ướp vào lại để cho sôi lại thêm vài phút, nêm lại cho vừa miệng rồi cho hành lá hay lá lốt vào. Thế là xong nồi canh ngót. Nếu ăn cay thì cắt vào mấy lát ớt. Tô canh ngót chẳng cần nhiều gia vị nhưng nước ngọt thanh, chất cá bay lên thơm nhẹ quyện với mùi hành lá, lá lốt làm ta muốn ăn ngay. Con cá kình nấu ngót vẫn còn chất của cá, thơm, chắc thịt, ăn miếng cá thấy béo béo, ngon ngọt vô cùng. Nếu ăn mặn thì thêm chén nước mắm ngon dằm trái ớt, chấm miếng cá với chút nước mắm đấy, lúc đó mới thấy hết cái ngon của thịt cá kình. Lại nhắc món cá kình nấu ngót, nếu muốn ăn món này với bún thì nêm mặn hơn một chút. Ăn với bún như ăn món canh chua cá bông lau của người Nam Bộ. Cũng ngon.

Dân gần biển mua được cá kình vừa mới biển lên, tươi roi rói thường làm món nướng muối ớt. Cá rửa sạch, ướp muối với ớt bột với dầu ăn rồi nướng trên lò than cho đến khi vàng con cá và bốc mùi thơm. Cá nướng muối ớt có thể xiên que và nướng trực tiếp trên bếp than hoặc nướng giấy bạc, nướng lò nướng cá không ngon và bị khô. Cá nướng chấm mắm me, không thì chấm mắm cá tỏi ớt cũng được. Cuộn bánh tráng với bún, kèm với rau sống, khế và chuối chát, bỏ thêm miếng cá nướng, ôi trời! Món dân dã mà ngon thấu trời. Nhất là mấy ông uống rượu, gắp miếng cá nướng vào miệng, nhai rồi hớp một chén rượu. Đời có chi vui hơn khà...khà.

Còn một món cá kình nữa cũng bắt cơm ghê lắm, đó là món cá kình kho thơm chua ngọt. Sau khi làm sạch cá, xẻ vài đường xiên trên thân cá cho cá nhanh thấm, sau đó ướp với muối, tiêu, nước mắm. Bắt nồi lên bếp, cho khoảng nửa chén nước vào với một cục đường mía hoặc hai muỗng canh đường cát vào nấu sôi cho đến khi đổi màu nâu là được. Nước này để tạo màu cá. Khi nước đường có màu cánh gián, hơi sệt ta cho cá đã ướp vào và trở đều 2 mặt cho thấm đường. Cho thơm đã cắt mỏng, hành tím, ớt vào nêm gia vị thêm mắm hoặc muối tuỳ ăn mặn nhạt. Cá vừa thấm đổ thêm nước sâm sấp mặt cá và giữ vừa lửa. Khi nước cá hơi sánh keo lại, cá dậy mùi thơm là nồi cá kho đã hoàn tất. Trời mưa mưa, lành lạnh mà có chén cơm nóng ăn với cá kình kho thì ngon hết biết. Ăn cá kho hơi cay mới thấm thía.

Chiều đầu tuần của tháng năm, ai cũng được nghỉ việc, nhiều người đi chơi tung tăng, tui nằm nhà nhớ những món ăn xưa. Buồn thúi ruột. Bởi bây giờ thời buổi văn minh lại khó kiếm ra được con cá tươi để mà ăn. Toàn cá ướp nước đá, con mắt cá đục lờ mà thịt thì bở, chất béo, chất biển chẳng còn chi. Nếu may thì không mua phải cá ướp diêm sinh, hoá chất ăn thêm bệnh. Thương cho lớp con cháu lớn lên khi đời sống, thực phẩm dư thừa nhưng toàn thức ăn nhanh, thức ăn đóng hộp, cá biển thì ướp đủ mọi thứ và đông lạnh cả tháng. Chúng khó mà thưởng thức được những con cá tươi xanh mới từ biển lên, không được ăn miếng thịt mới cắt từ lò mổ luộc lên thơm phức chứ không phải những miếng thịt từ con vật nuôi bằng thức ăn tăng trọng. Nhiều lúc đời sống phát triển ta lại bị đánh mất nhiều thứ. Buổi chiều nhớ con cá kình mà lòng cũng thoáng chút ngậm ngùi, tiếc nhớ.

2.5.2021

DODUYNGOC

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget