Latest Post


1.
Hôm đó hắn rời nhà sớm mười lăm phút, đồng hồ chỉ 6:15. Bình thường 6:30 hắn mới ra khỏi nhà.
Hắn là người sống nguyên tắc, đúng giờ giấc và đúng hẹn. Đó là những đức tính hắn có được nhờ thời gian hơn mười mấy năm sống trong cô nhi viện của một chủng viện công giáo. Ra đầu ngõ, cô Ba cà phê chào hắn: Thầy Tư hôm nay đi làm sớm thế? Hắn cười, giơ tay chào. Quán cà phê bắt đầu đông khách, cái chào của hắn ngầm chào hết mọi người, bởi toàn người quen cả.
Thật ra hắn chẳng có cuộc hẹn hò nào, đi sớm vì muốn thoát ra khỏi căn nhà, hắn thấy ngột ngạt, khó thở nên đi thôi. Cả đêm hắn không ngủ, vợ hắn chửi rầm rì suốt đêm. Cũng từng ấy chuyện thôi: rằng đàn ông không nuôi nổi vợ, rằng đàn ông mà không có khát vọng làm giàu, rằng đàn ông gì mà hèn, chỉ biết cúi mặt vào nấy cuốn sách vớ vẩn, rằng nhìn anh X, anh Y, nhìn bạn bè kìa, ai cũng công ty, ai cũng xe hơi, vila, vợ người ta như bà hoàng ... Toàn những chuyện cũ rích nhai đi nhai lại cả năm nay rồi. Hắn nghe mãi phát ớn, nhưng hắn không làm cách nào hơn. Ừ thì hắn bất tài, hắn hèn, hắn ngu, nhưng hắn là hắn thôi, hắn chẳng biết luồn cúi, hắn ghê tởm chuyện nịnh hót, hắn căm thù lũ người đạp trên người khác mà ngoi lên. Các frère, các cha dạy hắn thế. Nếu không có biến cố 75, chắc hẳn sẽ xin đi tu và đã thành linh mục rồi. Nhưng đời mà, biết đâu mà lường trước.
Hắn gặp vợ hắn cũng như duyên phận vậy. Hồi đó hắn đi dạy học, các trường thường tồ chức những sinh hoạt liên trường với nhau. Hắn có giọng hát tốt vì từng hát ca đoàn nên thường được bố trí đại diện trường của hắn thi văn nghệ. Cũng nhiều lần được giải. Có một lần khi hát xong, trên đường đi về lại chỗ ngồi, hắn vấp té vì một cái chân của một cô gái ngáng đường, thấy hắn té, cô gái và các bạn cười khoái trá, hắn tức mà không biết làm gì, mặt đỏ như say rượu. Oái ăm thay, trên đường về, hắn lại bắt gặp cô gái đó bị tai nạn ở ngã tư đường, chiếc xe nằm chỏng chơ, cô gái thì đang bất tỉnh. Người xem thì đông mà chẳng ai có động tĩnh gì, hắn định bỏ đi, nhưng rồi bản chất thiện nhân trỗi dậy trong lòng, hắn gởi xe ở quán bên đường, chỉ là hai chiếc xe đạp thổ tả thôi mà, bồng cô gái thuê xe taxi vào bệnh viện. Hắn làm mọi thủ tục, vét hết đồng bạc cuối cùng để đóng viện phí, ghi trong hồ sơ là người nhà, ký tên ở dưới nghiêm chỉnh. Bởi lúc đó hắn cũng cuống, nhân viên bệnh viện bảo gì, hắn làm đấy. Hắn ngồi chờ, ngủ quên một lúc cho đến khi y tá gọi tên hắn, hắn ngơ ngác thức giấc và rồi giật thót cả mình khi y tá bảo: chồng hả? Chết mẹ rồi, ngó bộ có chuyện rồi. Hắn ấp úng: Không phải ch..ồng.... là b ..a..n,! Cô y tá cười nhếch mép: Bà xã tỉnh rồi đấy, vào với bả đi. Hắn bỗng sợ, mặt hơi tái đi. Vào rồi, biết nói chi đây? Hay là đến đây xong nhiệm vụ rồi, dọt được rồi. Nghĩ vậy thôi, nhưng hắn vẫn bước vô. Cô gái thấy hắn thì ngạc nhiên: Anh là người đem tui vào đây đấy hả? Hắn gật. Anh tốt quá! Hắn gật cái nữa. Sao anh biết chuyện mà đem em vô đây? Hắn định gật, nhưng thấy là cái gật vô duyên. Hắn gãi đầu, ấp úng: Thì tình cờ thấy nên làm vậy. Bây giờ sao rồi? Cô gái cười: Em bị choáng thôi, anh đừng lo. Bình thường rồi. Hắn chợt phát hiện cô gái này cũng đẹp đó chớ. Nụ cười lại có duyên. Chỉ tội bạo dạn quá, hắn nhớ cái gạt chân cho hắn té hồi chiều. Hắn rụt rè: Sao hồi chiều gạt chân cho tui té vậy? Cô gái lại cười: Tại em thích anh, thích giọng hát như ca sĩ chuyên nghiệp của anh, nên chọc chơi. Hắn lại đỏ mặt, hắn tần ngần, tay xoắn lấy chiếc mũ: Thôi. Cô khoẻ rồi thì tôi xin về. Cô gái nắm lấy tay hắn: Sao vội vàng thế, anh đem em vào đây thì anh phải có trách nhiệm đem em về chớ, bỏ em một mình ở đây à. Thế là hắn ngồi lại đó suốt đêm, lúc thì rót cho cô gái li nước, lúc thì xoay cái gối. Hắn cảm thấy vui vì được săn sóc cho người khác, chuyện đó hắn chưa từng làm cho ai, lại làm cho người khác được vui.
Sau đó là những buổi hẹn hò, tháng sau thì về ở chung trong căn phòng bé tí như tổ chim trên lầu 7 của một chung cư hắn được cấp. Cũng chẳng cưới hỏi gì, cũng chẳng ra phường làm hôn thú. Hắn mồ côi, không biết cha mẹ là ai, chẳng bà con thân thuộc. Cô gái làm vợ hắn thì cả gia đình di tản từ những ngày cuối tháng 4.75. Vợ hắn không đi, không biết vì lí do gì, cô ấy chẳng nói, mà không nói thì hắn không hỏi, tánh của hắn thế. Cũng có một thời gian đầu hạnh phúc, chiều chiều đi dạy về, hai vợ chồng ngồi ngay balcon ca hát, kể chuyện cho nhau nghe. Nhưng vợ hắn không bao giờ kể chuyện ngày xưa, chỉ kể chuyện ở trường ở lớp. Hắn cũng vậy thôi, những chuyện ở cô nhi viện buồn hiu lấy chi mà kể. Vợ hắn dạy môn Pháp văn, hắn dạy môn Văn. Thời gian đó, tiếng Pháp ế chỏng gọng, chẳng có ai thèm học, vợ hắn dạy một tuần có mấy tiết, nhà trường bố trí làm thêm kế toán sổ sách. Môn Văn của hắn cũng chẳng ra gì, trong khi các môn Toán, Lý Hoá, Anh văn người ta hốt bạc nhờ dạy thêm thì hắn chỉ nhờ đồng lương mà sống. Hắn cũng chẳng có nhu cầu gì nhiều, không rượu chè, cờ bạc, gái gú lại càng không, chỉ có hút thuốc lá, tốn kém chẳng bao nhiêu. Hắn thấy sống được thế này là hơn những ngày sống cô nhi viện rồi.
Nhưng vợ hắn lại khác hắn, có chút tiền là son, là phấn, là sắm áo, mua giày. Nhiều bữa đi mua sắm về, mua không được món ưa thích vì không đủ tiền, vợ hắn cứ than: Sao đời tôi lại khổ thế này, chỉ có cái váy mà cũng không đủ tiền mua. Hắn ngồi im hút thuốc, chứ biết nói gì nữa, hắn cũng cảm thấy bất lực. Từ lời than, tiến tới cái liếc, cái nguýt và rồi nói thẳng vào mặt hắn: Thứ đàn ông không nuôi nổi vợ là hèn. Và rồi hục hặc suốt. Chẳng có bữa cơm nào trọn vẹn.
Cái bất hạnh không dừng ở đó, nhà nước chủ trương thanh lọc lại hàng ngũ giáo viên, sở giáo dục gọi hắn lên thắc mắc cái giấy khai sinh của hắn, không cha mẹ, nhưng có cha là một cố đạo người Pháp, hắn giải thích mãi hắn là con hoang, được chủng viện lượm về nuôi từ hè phố, chẳng có giấy tờ nên các cha làm cho cái giấy khai sinh và đứng ra làm cha đỡ đầu. Cán bộ không tin, cứ cho hắn có yếu tố nước ngoài trong lí lịch nên buộc hắn nghỉ việc. Hắn nhận quyết định tỉnh bơ không một lời xin xỏ, cũng tại cái tánh nó thế, dù hắn chưa biết ngày mai hắn sẽ làm chi để sống, rồi những lời nhiếc móc của vợ nữa. Vợ hắn cũng bị thanh lọc, cũng vướng cả gia đình ở nước ngoài nên không cho đứng lớp mà cho xuống văn phòng làm kế toán, sau này mới biết là tay hiệu phó cũng khoái nhan sắc của cô nàng nên cũng tranh đấu cho chút ưu tiên. Hắn chưa dám kể chuyện buộc nghỉ việc với vợ, hắn rụt rè nhiều lần mà vẫn chưa nói được thì may quá là may, có người quen đang làm phó tổng biên tập ngỏ lời cho hắn vào làm thày cò chữa morasse trong nhà in của báo. Buồn ngủ gặp chiếu manh, hắn tạ ơn Chúa lòng lành giang tay cứu nó đúng lúc. Nhận việc xong, hắn mới báo với vợ đã bỏ dạy về làm báo. Vợ hắn chỉ hỏi: Làm báo lương cao hơn nghề giáo không? Hắn bảo khá hơn chút. Vợ hắn gật: Thế thì được. Người ta vẫn gọi hắn là thầy. Xưa là thầy giáo, nay là thầy cò.
Về ở với nhau được hơn tháng, hắn phát hiện bụng vợ hắn lúp xúp, hắn hỏi: Bầu à? Vợ hắn lườm hắn một cái: Chứ không bầu thì là bụng mỡ à. Hắn vui lắm, hắn sắp có con, con hắn sẽ có cha mẹ đàng hoàng chứ không phải con hoang như hắn. Con hắn cũng sẽ có một gia đình. Nhưng vợ hắn thì bình thường. Chẳng vui, chẳng buồn, chỉ than vãn cho số kiếp sao nghèo mãi!!!
Thế nhưng rồi niềm vui của hắn không được bao lâu, bụng vợ hắn bắt đầu to thì một buổi chiều vợ hắn ra huyết dữ, thấm ướt cả đũng quần, hắn luống cuống chở vợ vào bệnh viện. Ngồi ngoài phòng đợi mà tim hắn cứ đập thình thịch, hắn lo sợ đủ điều. Hắn cầu xin Chúa, cầu xin Đức mẹ Maria lòng lành đoái thương cho gia đình hắn, giúp vợ con hắn được tai qua nạn khỏi. Nhưng Chúa ngó lơ, Đức mẹ cũng chẳng nghe lời cầu xin thảm thiết của hắn, con hắn chết non. Bác sĩ bảo hắn: Tiếc quá, đến tháng thứ bảy rưỡi rồi mà không giữ được. Hắn nghẹn ngào: Cám ơn Bác sĩ, phần số của cháu không được ra đời, chắc cũng là ý Chúa, biết phải làm sao? Nhưng rồi hắn giật mình, vợ chồng hắn về ở với nhau mới hơn bốn tháng, chính xác là bốn tháng mười ngày, sao lại có bào thai hơn bảy tháng? Hắn thấy cổ như ai bóp, không thở được. Thế là hắn bị lừa sao? Thế là thằng nào ăn ốc, hắn đổ vỏ sao? Hắn buồn thúi cả ruột gan, nhưng hắn vẫn vẫn im lặng, nuôi vợ chỉn chu những ngày vợ nằm bệnh viện. Cái nhẫn nhục đó cũng do cái tánh hắn thế, hắn không muốn ai phải băn khoăn về tội lỗi của mình.
Về nhà, lấy cớ đang bệnh, vợ hắn bảo hắn trải chiếu dưới nền nhà mà ngủ vì vợ hắn suốt đêm nhiều lần dậy tiểu, sẽ làm cho hắn thức giấc. Hắn nghe lời ngay, từ đó hắn nằm giữa phòng, trên cái chiếu rách, trời nóng thì cởi trần, mùa lạnh thì quấn tạm manh chăn cũ. Một bữa, không biết có chuyện gì vui, vợ hắn lại bắt chuyện với hắn bâng quơ mấy chuyện. Được một lát, hắn chợt nhớ đến cái bào thai, bèn rụt rè hỏi: Vậy chứ cha đứa bé là ai vậy? Vợ hắn quắc mắt lên, hai tròng mắt như lòi hết ra ngoài, nghiến răng nói từng chữ: Anh không cần phải biết, cũng như anh không cần biết quá khứ của tôi, anh chỉ nên biết đó không phải là con anh. Thế thôi. Hắn vớt vát: Nhưng là con của ai? Vợ hắn lại đay nghiến: Biết để làm gì. Nó đã chết rồi, biết nó là con ai để làm gì nữa. Hắn im, tánh nó thế, không muốn cãi với ai. Lúc nào hắn cũng nhận phần thua về mình.
Kể từ hôm đó, vợ hắn không cho hắn động vào người, nàm dưới sàn nhà, nhiều hôm bức bách quá, nhìn lên giường thấy thân thể vợ hắn phô ra dưới làn áo mỏng, hắn tự thủ dâm như thời mới lớn trong cô nhi viện.
Thời gian gần đây, vợ hắn như được lột xác, đẹp và tươi tỉnh hẳn ra. Áo quần, giày dép mua sắm hàng loạt. Vì từ bữa hắn hỏi về bào thai, cơm ai nấy ăn, trưa hắn ăn cơ quan, chiều bữa thì gặm bánh mì, hôm thì gói mì gói. Vợ hắn thì chiều nào cũng diện đồ đẹp, đi suốt, có hôm về say khướt, kêu cửa loạn cả lên. Vợ hắn lại có thêm nhiều bè bạn, các cô gái thì son phấn loè loẹt, mặt dấu vết mỹ viện tùm lum, diện toàn váy ngắn, guốc cao, lũ đàn ông thì mặt mũi ông nào cũng bặm trợn, trông như lũ cô hồn các đảng, thằng thì trọc lóc, thằng thì tóc dài thậm thượt, đi toàn mô tô, người đầy xăm trổ. Mỗi lần vào xóm, mấy chiếc xe nổ bình bịch, đứng từ dưới bóp kèn, kêu réo om xòm, hàng xóm bực mình lắm, nhưng thấy các các ông các bà ấy, ai cũng hãi nên đành im thin thít, chỉ lén lút chửi thầm con vợ hắn, bảo nhau rằng: Cô giáo gì mà bạn bè toàn như lũ xã hội đen. Vợ hắn không biết học ngôn ngữ ở đâu, mỗi lần nhiếc mắng hắn lại đệm thêm chữ địt và đéo, giọng lại lơ lớ như người miền ngoài. Có lẽ lai theo giọng của đám âm hồn mới nhập băng. Cũng có lần vợ hắn đoái hoài tới hắn, nói muốn giúp cho hắn mua chiếc xe mà đi cho ra hồn người, bởi mang tiếng là vợ hắn mà chồng đi chiếc xe cà tàng mất mặt quá. Vợ hắn hỏi hắn có được bao nhiêu tiền, hắn nghĩ bụng hắn làm gì có tiền, lương tuy sau này vợ hắn không thèm cầm nữa, nhưng cũng chỉ đủ cơm gạo và thuốc lá hàng ngày, chẳng có dư. Hắn chợt nhớ chiếc đồng hồ đeo tay, cái này cha Francois lúc về Pháp cởi ra tặng hắn, Omega đàng hoàng, đã có lần đi chùi dầu, tên sửa đồng hồ gạ mua mười một triệu rưỡi. Hắn nghĩ đồ kỷ niệm, ai lại bán đi. Nhưng bây giờ, mua chiếc xe mới thì cũng phải đành lòng thôi. Hắn bèn bảo vợ: Tôi cũng có thể có khoảng hơn mười triệu khi bán chiếc đồng hồ này. Vợ hắn cười khanh khách: Địt mẹ, có mười triệu mà cũng đòi mua xe. Thôi thì tôi tính như vầy. Xe khoảng ba lăm triệu, tôi cho anh mượn thêm hai nhăm triệu, ngày mai ra tiệm hốt về một chiếc mà đi cho ra cái hồn con người. Thế là hắn có chiếc Honda Air Blade mới tinh. Nhưng vợ hắn chưa bao giờ ngổi cho hắn chở, cô ấy chỉ thích ngồi xe môtô nổ bình bịch, ngồi trên yên đít vểnh lên như con nhái hay cũng giống thế ngồi ỉa trên bàn cầu Mỹ, đằng trước có thằng đầu trọc lóc, xăm trổ tùm lum cầm tay lái, rú ga chạy vù vù.
Cũng trước cái hôm mà sáng ra hắn đi sớm mười lăm phút, vợ hắn đem mấy tên bạn âm hồn xăm trổ của cô ấy ra mà so sánh với hắn. Vợ hắn bảo cũng là một thằng đàn ông giống nhau sao mà một bên trông anh hùng hảo hán, làm ra tiền muôn bạc vạn, ăn chơi toàn chỗ lẫy lừng, còn một bên thì như con cù lần, sống rụt cổ với mớ chữ nghĩa chẳng mang lợi ích gì, suốt đời không ăn được miếng ăn ngon, đến được những chỗ sang trọng, sống thế phí cả đời người. Hắn cũng cãi mấy câu, hắn nói đến triết lí sống, hắn đưa ra cách sống của kẻ sống bằng trí tuệ đương nhiên có lối sống khác của lũ lừa đảo kiếm cơm, quên đi những nỗi đau của đồng bào mình, của dân tộc mình. Vợ hắn gầm lên: Rởm! Địt mẹ suy nghĩ của những thằng trí thức nghèo đéo làm được gì nên tự rúc đầu vào cát. Hắn muốn điên, hắn muốn tát vào cái mồm đĩ thoả của vợ hắn, nhưng hắn kìm lại được, ngồi suốt đêm đốt cháy cả bao thuốc. Cái tánh hắn thế, hắn nhẫn nhục quen rồi.
Sáng hôm đó hắn đi làm sớm mười lăm phút, sau một đêm thức trắng, hắn vẫn là kẻ yêu đời, vẫn cảm nhận được những hạt mưa bụi nhè nhè như sương trong nắng sớm, hắn khe khẽ huýt sáo một bản nhạc vui. Đời vẫn vui, buồn làm chi, quên đi số phận đẩy đưa hắn gặp một người đàn bà, quên đi một kiếp vợ chồng không tìm thấy hạnh phúc. Hắn lái ngang đường Pasteur, quay qua Lê Thánh Tôn, ghé vào gánh xôi bà Lộc, gánh xôi lừng danh có mặt ở góc phố này đã hơn nửa thế kỷ, định mua gói xôi bắp ngon nổi tiếng của bà. Khách hàng đông quá, lớp trong lớp ngoài. Nghĩ mình là khách quen, hắn nhoài người vào cho bà cụ thấy mặt, sẽ ưu tiên gói cho nó một gói. Khách đông không chen vào được, hắn dựng xe, chen vào trong. Bà cụ đã thấy mặt hắn, cười chào, gói liền cho hắn một gói. Hắn hí hửng đi ra, bỏ gói xôi vào giỏ, hắn quay người lại và trái tim muốn rớt ra ngoài. Chiếc xe mới tinh của hắn không còn đó nữa, ai đó đã lấy mất rồi. Hắn hét lên hãi hùng: Xe tui đâu? Xe tui mới dựng đây đâu rồi? Hắn cuống cuồng nhìn từng người, lắc mạnh vai người đứng cạnh: Xe tui đâu? Xe tui đâu? Mọi người quay lại bàn tán, thương cảm cho hắn, nhưng cũng chẳng ai biết xe hắn đâu, ai là người lấy xe của hắn. Có người bày cho hắn đi báo công an, người mách gắn về miệt Gò Vấp tìm đám xã hội đen thuê tìm, mỗi người một ý nháo nhào cả lên. Hắn ngồi phịch xuống lề đường, chiếc túi bỏ nghiêng, gói xôi lăn lóc bên vệ đường. Hắn ôm đầu, vò tóc, hắn không còn là con người bình tĩnh, nhẫn nhục, ít bộc lộ tình cảm như cái tánh thường ngày của hắn nữa. Hắn đau đớn, hắn muộn phiền và tiếc nuối, đánh mất luôn con người của hắn.
2.
Nghe theo lời mọi người, hắn đi báo công an, thủ tục qua loa, chiếu lệ, làm đơn cớ mất rồi về. Hắn buồn không biết đi đâu, gọi điện thoại đến toà soạn xin nghỉ một bữa, rồi lang thang miết, thấy chiếc xe Honda Blade nào cũng nhìn kỹ, cứ ngỡ là xe mình. Hắn lang thang đến trưa, đi ngang qua quán thịt chó đường 3 tháng 2, hắn tạt vào, buồn quá, tập uống chén rượu quên sầu. Gọi mấy dĩa thịt, kêu xị rượu, người ta bảo người say không biết buồn, hắn mong xị rượu này sẽ giúp hắn quên buồn. Hắn uống chậm rãi, cứ mãi ngồi trầm ngâm. Bàn bên cạnh cũng có một người khách ngồi một mình. Lão này người trông cổ quái, để râu ba chòm lượt thượt, ánh mắt sắc cứ láo liên, nhìn như đốt cháy người ta. Lão mặt cái áo jacket đen, đội cái mũ nỉ xưa lắc lơ cũng màu đen. Khuôn mặt xương xẩu xám ngoét, nếu lão cầm thêm lưỡi hái người ta sẽ hình dung ra thần chết hay lão phù thuỷ trong các truyện cổ tích. Lão cứ nhìn sang hắn mà cười, nụ cười bí hiểm làm chòm râu rung rung. Hắn thấy e ngại, cứ cúi mặt mà ăn, lâu lâu nhăn mặt hớp li rượu đắng, hơi rượu tràn đầy hai lỗ mũi. Bỗng hắn thấy có một bàn tay gầy guộc đặt trên vai hắn, hắn hốt hoảng nhìn lui, lão già đã đứng sau lưng hắn, nhìn hắn và cười, phô những chiếc răng nhọn vàng khè: lão nói như rít trong cổ họng: Buồn lắm phải không? Đời mà sao không buồn được. Cho ta ngồi chung cùng uống rượu quên buồn nhé. Độc ẩm làm sao vui. Vừa nói lão vừa ngồi xuống chiếc ghế trống bên cạnh hắn. Hắn gượng cười: Xin mời lão. Và rồi cả hai cùng uống, hết chai này lại kêu chai khác. Lão già vẫn tỉnh queo, còn hắn thì đã say khướt, nhìn một hoá hai, mặt đất cứ quay vòng vòng dưới chân hắn. Lão già bỗng kê miệng sát vào tay hắn: có muốn bay lên trời không? Hắn nhừa nhựa: Là sao? Lão già lại càng sát vào hắn: Là đi trên trời, là cách xa mặt đất đầy khói bụi, là thoát cảnh chen lấn của trần gian, là một mình một cõi khi mọi người phải luồn lách mà sống.
Bỗng dưng hắn nhớ đến những ngày còn bé ở cô nhi viện, những lúc nghĩ đến cảnh sum vầy của một gia đình có cha mẹ, anh em. Hắn thèm lắm một gia đình. Hắn thường leo lên mái nhà cô nhi viện, nhìn sang gia đình hàng xóm đang sinh hoạt hay đang cùng nhau sum họp mà ước ao. Hắn muốn bay lên như chim, bay thật cao, để nhìn thấy được cảnh của nhiều gia đình, bay lên cao để không còn nỗi buồn của đứa trẻ mồ côi. Nhiều khi đi thả diều, nó cũng muốn được như cánh diều bay giữa trời lộng gió, được tự do trong bầu trời xanh biếc. Và trong cơn say hôm nay, có người bảo nó có muốn đi trên trời không, có muốn thực hiện ước mơ của một thời thơ dại. Trong vô thức của quá khứ, hắn gật đầu, hắn muốn được thực hiện ước mơ. Lão già cười, lão bảo hãy há miệng ra, nuốt viên thuốc này, ngươi sẽ đi trên trời giống như đi trên mặt đất, ngươi sẽ thành NGƯỜI ĐI TRÊN TRỜI duy nhất trên thế giới này bằng chính đôi chân của mình. Không chút do dự, hắn há miệng thật to và lão già chỉ dùng hai ngón tay khẩy nhẹ, viên thuốc đi lọt vào thẳng bao tử của hắn. Hắn nghe thấy một luồng hơi nóng chạy dọc sống lưng, đi xuống hai cẳng chân của hắn và nằm ở đó. Đôi chân hắn ấm như đang hơ trên một lò than. Lão già lại kề tai hằn thủ thỉ: Bí mật, giữ bí mật về viên thuốc này, ngươi sẽ sống, bằng ngược lại, ngươi sẽ chết ngay lập tức. Nhớ chưa. Hắn say lắm rồi, đầu đã nghẹo một bên, nước giải chảy bên khoé miệng, nhưng vẫn nghe loáng thoáng những lời cuối cùng của lão. Hắn ngước lên, định đưa bàn tay lên như minh chứng đã nghe và sẽ giữ lời. Nhưng lão già như luồng gió, biến mất tiêu. Hắn rùng mình, lạnh dọc sống lưng và hình như tỉnh rượu đôi chút. Hắn trả tiền và ngật ngưỡng đi về. Hắn không biết phải về đâu, loanh quanh mãi lại thấy về nhà. Lần từng bước lên lầu bảy, hắn thấy trời như sà xuống đầu hắn, cứ quay mòng mòng. Đứng trước cửa phòng, hắn ngại gặp vợ, không biết nói sao về vụ mất xe, nên cứ ngập ngừng trước cửa. Hắn mở hé cửa sổ nhìn vào. Và hắn tỉnh hẳn rượu, hắn thấy trời vẫn trên cao và không quay mòng mòng nữa, nhưng hắn lại thấy máu đông cứng lại, tim như ai bóp nghẹt, không thở được, tay hắn run run và chân thì muốn khuỵ xuống. Hắn nhìn thấy vợ hắn đang làm tình với thằng đầu trọc. Vợ hắn thì rên mà cái mông của thằng trọc thì cứ nhấp nhô đẩy tới. Hắn thắy đắng họng, và hắn lặng lẽ rời đi. Hăn lê bước bải hoải xuống cầu thang và ngồi ở đó cho đến khi mặt trời tắt sau những mái nhà bên kia phố. Hắn không cảm thấy đau, không cảm thấy buồn., nhưng có một vật gì đó cứ khóet mãi trong lòng hắn. Hắn cảm thấy bị sỉ nhục, hắn thấy hắn bị xúc phạm nặng nề. Hắn đã hình dung cảnh này khi chúng hẹn chở nhau đi, nhưng khi chứng kiến trước mắt thì cảm giác hoàn toàn khác.
Rồi hắn cũng phải lên phòng, vợ hắn với chiếc váy hờ hững phủ lên người đang say ngủ, sau cuộc ái ân thoả mãn người ta cần ngủ. Nhưng hắn đang khó chịu trong lòng, hắn đánh thức vợ hắn dậy, trả thù vợ nó bằng cách báo cho biết là chiếc xe ba mươi lăm triệu đã bị mất rồi. Vợ nó tru tréo lên, hết địt đến đéo, ồn ào cả một vùng. Hàng xóm bu lại rồi tản ra, ai cũng lắc đầu. Đợi vợ nghỉ mệt,hắn mới thong thả giằn từng tiếng: Tôi biết rõ hồi trưa cô đã làm tình với ai trên chiếc giường này. Nhà tôi không phải là nhà thổ, cô muốn làm đĩ thì đi chỗ khác, chỗ này không phải là chỗ để mấy người làm chuyện thú vật. Vợ hắn đang há miệng để tiếp tục chửi, nghe hắn nói xong thì khép miệng lại, giọng bớt hàm hồ hơn: Thôi được, tôi cũng muốn chấm dứt lâu rồi, nhưng chưa có dịp, bây giờ tình hình thế này thì tôi sẽ đi, nhà của anh anh ở, anh và tôi cũng chẳng có trói buộc gì nhau, nên cũng chẳng có gì để bàn bạc. Hắn ngồi im, hút thuốc, trở lại chính con người của hắn, thản nhiên trước mọi chuyện. Và rồi vợ hắn đi, chấm dứt một cuộc tình. Cũng xong một đời vợ.
3.
Đêm đó hắn cũng chẳng buồn mà cũng chẳng vui. Chỉ thấy cuộc sống của hắn thừa thải và vô tích sự quá. Hắn cũng quên mất cơn say bữa trưa, quên mất lão già và câu chuyện huyền ảo của lão. Hắn thấy mình nên chết đi, sống thế cũng đủ cho một đời người rồi, sống nữa cũng chỉ lập lại những điều đã sống. Hắn ngồi trên balcon, nhìn xuống những mái nhà, nhìn thấy những gia đình đang sống với nhau. Ngoài xa kia là khu nhà mới xây của tầng lớp cán bộ cấp cao, những ngôi nhà thật là đẹp, đêm đêm đèn sáng như ngày. Họ ở một thế giới khác không có gì giống cuộc sống và thế giới của hắn và rất nhiều người khác. Hắn liên tục đốt thuốc và trong khoảnh khắc không kìm hãm, hắn đứng trên thềm balcon rổi nhảy xuống trần gian lộn xộn phía dưới. Ra khỏi khoảng không, hai chân của hắn quơ quào trong không khí như bản năng sinh tồn và rồi hắn cảm thấy như đang đứng trên mặt đất, hai chân chạm vào không khí nhưng lại vững chải như đứng trên nền nhà. Hắn thử bước đi, nhưng bước chân chẳng khác chi như đang đi trên đường. Lúc đầu hắn hơi hãi, nhưng rồi nhớ đến lão già trong quán thịt chó, hắn ý thức được rằng điều huyền ảo đó chính là sự thật. Hắn đã đạt được ước mơ của quá khứ. Hắn đi loanh quanh, khi xuống thấp một chút, lúc lại lên cao một chút. Thú vị thật. Hắn men ra khoảng không trống trải phía trước, nhìn xuống giòng xe chạy trên đường, nhìn từng đoàn người lũ lượt chen lấn nhau, hắn cười rú lên thích thú, từ nay hắn đã có một thế giới mới, một thế giới khác loài người nhưng vẫn ở trong thế giới này. Bỗng có người ở dưới kia phát hiện ra hắn đang lửng lơ giữa trời, đoàn xe đang chạy đứng hẳn lại, đoàn ngưới đang lũ lượt cũng đứng hẳn lại, tất cả đều ngước mắt lên để nhìn thấy hắn. Có nhiều ánh chớp loé của máy chụp hình, có tiếng la hét của đám đông. Hắn sợ, thế giới của hắn đã bị phát giác, rồi sẽ bị phá vỡ, hắn lật đật chạy vào phòng, đóng cửa và ngồi thở. Hắn sẽ bị phát hiện, cuộc sống của hắn sẽ không còn như cũ nữa.
Đêm đó, hắn chìm trong giấc ngủ mộng mị trên chiếc giường mà đã mấy tháng rồi hắn không được ngã lưng.
Ngay sau đấy chỉ năm phút, tất cả báo mạng ở Sài Gòn đều đăng bài về một con người thần bí đi được trên trời, nhưng rất tiếc không có tấm hình nào đủ rõ để thấy được nhân vật. Sáng hôm sau cũng thế, tất cả tờ báo đểu đăng tin nhân vật kỳ bí đang đi trên trời, cũng chẳng có tấm hình nào rõ mặt. Các tôn giáo đều cho rằng đó chính là thánh chủ của tôn giáo mình. Nhiều người dân đem hoa, đem nến đặt ngay khu vực nhìn thấy người đi trên trời, nhiều kẻ còn quỳ lạy cầu xin, khấn vái cho đến hết đêm. Báo chí nóng như hơ trên lò lửa, bịa ra nhiều chuyện kỳ bí, đặt nhiều tít rất dữ dội để câu view. Đám phóng viên ảnh mang nhiều ống kính dài cả thước chầu chực suốt ngày, đám phóng viên mang laptop, ipad gặp ai cũng phỏng vấn có thấy gì không. Chính quyền, công an, an ninh chuẩn bị phương án, họp bàn đến tối mịt. Nhưng người đi trên trời vẫn bặt vô âm tín. Hắn đang đi đâu?
4.
Sáng hôm đấy hắn rời nhà sớm. Đi bộ. Đương nhiên. Xe mất rồi thì đi bằng hai chân thôi. Và hắn lại chợt nhớ ra đêm qua hắn đã đi được ở trên trời. Hắn nghĩ: giá mà không có ai để ý nhỉ, hắn phi một cái lên chỗ bát ngát kia, lượn lờ đến cơ quan, sướng phải biết. Ngang chỗ cô Ba cà phê, hắn vẫy tay chào, cô Ba nói với theo: Thầy Tư hôm nay lại đi sớm. Trong giọng nói có chút thương hại khi cô nghĩ đến cảnh nhà hắn hôm qua. Cuộc chia ly của một cuộc tình. Gì cũng thấy xót xa. Hắn chờ ở trạm xe buýt, phố dần đông, nhiều người đi ngang chỗ toà chung cư cũ xì của hắn, ngước nhìn chỉ chỏ.
Hắn đến cơ quan và vào bàn như mọi lần, xấp bài nằm một chồng trên bàn, hắn phải sửa xong trước trưa nay. Hắn lại thấy đang lười, hắn là thằng rất nghiêm chỉnh và có trách nhiệm trong công việc. Nhưng giờ thì hắn thấy oải. Phía bên kia, nhóm dàn trang và trình bày báo đang xúm lại trước màn hình. Tên trưởng nhóm đang phân tích gì đấy trên hình. Hắn không ưa tên này, mặt dơi, tai chuột lại ti hí mắt lươn. Người đã xấu tánh tình lại rất tệ. Chuyên đi soi mói chuyện người khác. Tên này làm công tác đoàn, đang là đối tượng phấn đấu vào đảng. Tên này hay lân la hỏi chuyện hắn, hỏi như điều tra, nhưng tánh hắn không thích nói nhiều về mình cho kẻ khác, cho nên trong ý nghĩ của tên này, hắn có điều gì che dấu, nên cứ tìm cách gợi chuyện hoài. Bỗng dưng tên này hét lên: A đù!!! Tui nghĩ ra rồi. Hắn click chuột, zoom hình lên và hỏi: Thấy giống ai không? Mới nhìn tui đã ngờ ngợ. Cả đám nhìn vào rồi ngước nhìn qua bàn hắn. Hắn chột dạ, hình như cả đám đã thấy gì đó liên quan đến hắn, dính líu cái vụ đi trên trời đêm qua chăng? Cái tin này đang hot quá mà! Hắn cúi mặt như muốn che đi mặt mình, làm như đang cắm cúi say mê với công việc, nhưng hai tai giỏng lên lắng nghe chúng nó nói gì. Có đứa bảo: Ừ! Có vẻ giống. Nhưng mà không lẽ... Có thằng lại gạt đi: Chuyện tầm phào, thằng cha cù lần đấy mà làm gì làm được chuyện động trời thế? Lại có kẻ bảo: Mấy ông rảnh quá hà. Làm việc đi! Chỉ có tên trưởng nhóm sau khi buông tiếng A đù là trầm ngâm, nó liếc qua hắn, liếc đến mấy lần. Hắn không hiểu trong đầu tên đó đang suy nghĩ gì, nhưng hắn biết chắc suy nghĩ đó có liên quan đến hắn.
Trưa ăn cơm ở căn tin, tên này đến vỗ vai hắn và hỏi: Đêm qua đi đâu thế? Hắn cảnh giác: Đi đâu là đi đâu? Nằm ngủ sớm chứ đi đâu? Có chuyện gì à? Tên này cười giả lả, hai mắt tít lại như hai sợi dây chì, cái tai chuột rung rung: Hỏi chơi thôi. Thế là tốt. Hắn nghĩ, chắc tên này đã phát hiện chi rồi, ngồi ăn cơm mà hắn thấy bụng lo lo, dính với thằng này là lắm rắc rối, nó là thằng rất thông minh nhưng cũng rất nham hiểm. Phải nghĩ cách đề phòng mới được.
Khuya. Không ngủ được, hắn ra balcon ngồi hút thuốc, thấy lòng thật trống trải, thấy đời buồn tênh. Dưới kia giòng người vẫn trà trộn nhau đi tới, luẩn quẩn với những kế sinh nhai. Hắn muốn bước ra khoảng không gian của trên trời kia, đi trên tất cả muôn người, lặng lẽ một thế giới khác, không đua chen, không lấn bước ai. Nhưng hắn ngại. Hắn sợ lại bị phát hiện như đêm qua. Hắn biết, dưới kia có bao kẻ ngồi rình chờ đợi sự xuất hiện của hắn. Hắn đành kìm hãm khát khao lại. Ngồi nhìn đêm trôi đi.
Mấy ngày rồi, tin người đi trên trời chẳng thêm gì mới. Một ngày biết bao chuyện lướt qua đời, cha hiếp con, vợ cắt của quý của chồng, ca sĩ trẻ chửi nghệ sĩ già, đồng tiền tụt giá, cán bộ bị bắt, chuyện phá núi xây vila, chuyện quan nuôi gái tốn hàng tỉ đồng mua xe, sắm nhà, chuyện nhà đất đang lên giá, cô diễn viên đóng phim lộ cả mông trần, clip sex thầy chùa làm tình bằng miệng mấy chục phút, tay chơi trẻ lộ clip làm tình với cả đàn người đẹp.., Những tin tức dồn lên nhau, đè lên nhau tràn ngập báo chí, che khuất dần chuyện có một người đi ở trên trời. Có thể người ta chưa quên, nhưng người ta không nhắc đến nữa.
Hằng đêm, hắn ngồi ở hàng hiên, nhìn xuống đường, rồi nhìn lên trời. Đêm hè, trời cao tít đầy sao. Hắn thèm được đi trong không gian đó, để được thong dong quên sự đời. Hơn tuần nay rồi, những phút khát khao như thế, hắn cảm giác đôi chân như có lửa, nóng ngùn ngụt, cứ thúc hắn bước qua cái bờ xi măng, bước đến cái không gian vô tận chào mời. Nhưng hắn sợ, một nỗi sợ mơ hồ, hắn biết vẫn có người đang rình rập dưới kia chờ cơ hội, chỉ cần hắn bước đi trên không gian kia, hình ảnh của hắn sẽ bị thu vào ống kính ngay, và hậu quả như thế nào, hắn cũng chưa hình dung ra nổi.
Một đêm, không ngủ được, hắn trằn trọc mãi. Nóng. Cái nóng mùa hè cộng thêm cái nóng như lửa đốt đôi chân, cứ hối thúc hắn đứng dậy và thôi thúc hắn trôi ra khoảng không gian đầy gió. Và khi chịu hết nổi, hắn đành đầu hàng. Hắn trùm áo khoác đen có mũ, bịt khẩu trang màu tối, mang kính đen thay cái kính cận có đôi mắt lấp lánh, hắn bước ra ngoài và đi. Lúc đó đã khuya lắm rồi, đường vắng, hắn men theo những hàng cây và những góc tối. Hắn đi càng lúc càng cao, những bước chân nhẹ nhàng thật êm ái, những bước chân như bước trên tấm đệm không khí mới thoải mái làm sao! Hắn không dám đi xa, chỉ loanh quanh trên trời cao khu vực nhà hắn. Phía bên kia, dãy vila của cán bộ lúc nào cũng sáng choang đèn đuốc, hắn muốn một lần qua đó, nhìn vào những căn nhà đẹp đẽ kia, nhưng hắn sợ bị phát hiện. Bên đó là biểu tượng của sự giàu sang, quyền lực, phía chung cư hắn ở như mảng đối lập, cũ kỹ, tối tăm, rệu rã. Hắn trở về lúc ánh sáng của bầu trời bắt đầu ngày mới và hắn cảm thấy thật sung sướng, thật hạnh phúc sau nhiều giờ lang thang ở trên trời.
Kể từ hôm đó, đêm nào hắn cũng tranh thủ ngủ sớm, khuya lại thức dậy, choàng đồ đen ngao du giữa trời. Càng ngày không gian hoạt động của hắn càng mở rộng và một hôm hắn đánh bạo bước qua thế giới của ánh đèn bên kia đường. Hắn nhìn vào thế giới đó và choáng ngợp. Nhà nào cũng đẹp, đồ đạc toàn thứ bóng lộn đắt tiền. Nhà nào cũng có vườn cây, ao cá, hồ bơi, thảm cỏ xanh rì. Căn phòng nào cũng đầy đủ tiện nghi. Đúng là ở thời đại này, không ai giàu hơn cán bộ lãnh đạo. Từ hôm đó, hắn khoái lân la khu vực này, vì phía bên kia chỉ là mảng tối đen, xám ngoét. Phía bên này, hắn thấy được nhiều điều, nhiều cảnh khác lạ. Hắn nhìn vào từng ngôi nhà, từng căn phòng cửa để ngỏ, và có hôm hắn nhìn thấy lão già làm tình với cô gái trẻ măng, có bữa lại bắt gặp một cặp phi công trẻ lái máy bay bà già, có đêm lại nhìn thấy hai đứa trẻ làm tình ngay hàng hiên. Hắn tự hỏi, sao giới này làm tình loạn cả lên vậy nhỉ. Hắn cũng từng nhìn thấy trong căn phòng tràn ngập tiền lấy ra từ các phong bì, cả vợ lẫn chồng ngồi đếm. Có khi thấy cả vàng và kim cương lấp lánh. Đặc biệt, hắn thường đứng trên cao để nhìn những tiệc tùng đầy ắp thức ăn ngoài sân với những chiếc đèn cao áp sáng rực, xe hơi sắp hàng dài và những người phục vụ lăng xăng trong tiếng nhạc xập xình, đôi khi xuất hiện những ca sĩ đình đám và nhiều lãnh đạo cấp cao. Hắn lạ lẫm không khí đó, vì từ nhỏ đến lớn, hắn chưa bao giờ được tham dự những bữa tiệc thế này. Con mồ côi, ở cô nhi viện, lớn lên thì kiếm cơm hộc máu, lễ tiệc thế này trước đây hắn chỉ thấy trong phim ảnh hay trong cuốn tiểu thuyết. Đó là một thế giới khác, hoàn toàn khác với thế giới hắn đang sống. Và chính cái tính tò mò đó đã hại hắn. Lần đó tiệc lớn lắm, tổ chức trong căn vi la lớn nhất khu đó, có ca sĩ Tuấn Ngọc đến hát. Đó là giọng ca hắn hâm mộ, một giọng trầm ấm, đầy nam tính mà chất chứa hồn phách của những ca từ. Anh ta hát như hơi thở. Bữa nay anh ấy hát bài Riêng một góc trời, bài hát hắn thích, nên nghe mê mẩn. Tiếng hát vút lên ở cuối đoạn, hắn đắm say với tiếng hát, lời ca nên cứ từ từ hạ thấp độ cao lúc nào không hay. Có một ánh chớp loé của máy ảnh làm hắn giật mình, hắn chỉ kịp nghiêng mình né luồng ánh sáng rồi vút đi như chạy trên đường, tim thình thịch. Hắn nghĩ đã có ai đó chụp được tấm hình của hắn. Hắn sợ, cả đêm đó hắn nằm thao thức mãi.
Sự kiện người đi trên trời lại được khơi dậy khi một tờ báo đăng hình ảnh độc quyền chụp được người đi trên trời. Tấm hình chụp nghiêng, một người mặc đồ đen từ đầu đến chân, nét mặt được ánh đèn rọi vào nên cũng thấy được phần nào khuôn mặt. Báo chí lại rần rần. Nhiều tít giật gân được tung ra: "Người đi trên trời: những bí ẩn"."Bức chân dung của người bí mật", "Người đi trên trời là ai?", "Những khám phá hé lộ người đi trên trời"....Thiên hạ lại xôn xao, báo mạng liên tục giật tít, người người ngồi bàn luận, đoán mò khắp phố và đầy các vỉa hè. Ban lãnh đạo thành phố họp, công an lập chuyên án, bộ đội chuẩn bị diễn tập. Thành phố mùa hè đã nóng càng nóng hơn. Hắn bắt đầu thấy sợ hãi hơn, đi đường hắn đội cái mũ sùm sụp, tránh nhìn mọi người. Đến cơ quan, hắn cúi mặt làm việc, không dám lân la nói chuyện như bình thường. Hình như tên mặt dơi tai chuột đó cứ nhìn hắn mãi. Y dán mắt vào màn hình, phóng to hình trên báo rồi cứ liếc hắn, rồi lại nhìn hình. Hắn lo. Thằng này quái lắm, chắc chắn là hắn nhìn thấy điều gì đó trong hình rồi. Y bước qua bàn hắn, nhìn xuống đôi sandal của hắn và y cười khoái trá, hai con mắt tít lại như hai vết chì, hàm răng hô càng vẩu ra. Hắn chột dạ vì tiếng cười hả hê của y. Chết mẹ, chắc hắn nhìn ra đôi sandal. Kiểu này chắc khó thoát rồi, mồ hôi tứa ra ướt cả lưng hắn.
Chiều hôm đấy, khi bước ra cổng toà soạn, thấy bên đường ở quán cà phê vỉa hè có hai thanh niên đứng dậy bước sang đường, hắn đã thấy lòng nghi ngại rồi. Hai người tiến đến kẹp sát hắn, một người móc trong túi một chiếc thẻ màu đỏ đưa ngang tầm mắt hắn, nhưng hắn chẳng thấy gì, tay kia vừa kẹp tay hắn vừa nói như rít trong cổ họng: Anh đã bị bắt, đi theo chúng tôi, không nên kháng cự vô ích. Hắn có cảm giác như bị dìu đi. Và hắn chẳng kịp phản ứng gì, bước chân vẫn bình thường băng qua đường đến chiếc xe hơi chờ sẵn.
Hắn quay lại ngước nhìn trên cửa sổ của toà soạn, thấy thằng tai chuột chồm ra nhìn xuống với vẻ mặt hân hoan, đắc thắng kèm nụ cười ngạo nghễ.
Thế là hắn đã bị bắt. Người đi trên trời đã bị bắt. Nhưng báo chí im re, không một tờ báo nào đăng tin này, kể cả hàng loạt báo mạng. An ninh và tuyên huấn chỉ thị đây là chuyện bí mật quốc gia, báo chí không được léng phéng.
(Còn tiếp)
Đỗ Duy Ngọc


Mấy hôm nay xôn xao cô Á hậu bán dâm với số tiền khủng cho một lần đi. Chuyện đấy tui không quan tâm vì thân thể của cô ấythì cô ấy có quyền sử dụng, cho hay bán là quyển riêng. Luật của ta vẫn còn nhập nhèm chưa rõ về chuyện này. Nhưng từ chuyện ấy mới đẻ ra chuyện để bàn dưới đây, chứ ở không làm gì?
Chuyện là tui có một anh bạn già, hồi xưa học chung trường Đại học, nhưng anh là lớp đàn anh, hơn tui mấy lớp, năm nay anh đã vào hàng U80. Anh là người đặc biệt, từ ngoại hình cho đến tính cách. Hiện anh là một doanh nhân đang đầu tư giáo dục, là chủ một cơ sở rất nổi tiếng của thành phố này. Anh đi nhiều, học được nhiều kiến thức, lắm kinh nghiệm. Cách nói của anh nhiều khi nghe nghịch nhĩ vì anh ưa dùng tiếng Đan Mạch, nhưng rất hợp lý và khó cãi. Nhân cái vụ bán dâm, trong một buổi tiệc rượu, có người hỏi anh thế thì theo anh mấy cô làm gái đó khi ngủ với khách mà chẳng có chút tình cảm nào thì cảm xúc nó ra làm sao?
Anh bạn tui mới luận về chữ GIAO để thay câu trả lời.
Anh bảo:
Trước hết nên định nghĩa thế nào là làm tình trước đã. Tôi là người say mê văn học Trung Hoa, tôi thấy trong văn học Trung Hoa, tuy không có một chương sách riêng định nghĩa về vấn đề này, nhưng mà nó bàng bạc ở nhiều tác phẩm, nhất là trong truyện Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh. Theo đó có thể phân chia việc làm tình theo ba cấp độ khác nhau là : giao cấu, giao hợp và giao hoan.
Cấp độ 1 là GIAO CẤU: Đây hoàn toàn là lối quan hệ theo bản năng, thô thiển, theo kiểu quan hệ của loài súc vật. Con đực gặp con cái là lăn xả vào nhau, hoàn toàn để thỏa mãn bản năng, nhu cầu tình dục. Quan hệ theo kiểu này, thì nhiều khi gặp nhau, làm tình với nhau, ra về mình còn không biết tên tuổi, giọng nói của nhau, thậm chí có khi nàng thiếu một ngón tay mình cũng không biết …Ví dụ các Á hậu này, đi khách xong chẳng cần biết người vừa ngủ với mình là ai, tên gì, nghề nghiệp, chức tước ra sao. Tiền trao cháo múc.
Cấp độ 2 là GIAO HỢP: Là lối quan hệ cao cấp hơn, và có đôi chút yếu tố tình cảm. Trước khi vào cuộc thì còn ôm ấp, tỉ tê, kể lể, tâm sự đời tôi, có khi ca hát, nâng niu mơn trớn nhau, rồi mới ôm ấp rồi sau hết mới làm tình với nhau.
Và cấp độ 3 là GIAO HOAN: Đây mới là cấp độ cao cấp nhất. Hai bên có thể đàm đạo, trao đổi, thảo luận với nhau về nhiều lĩnh vực. Gặp cả hai bên cùng thích chính trị, thì có thê thảo luận về nghị quyết đại hội Đảng, vấn đề luận tội TT Trump, nếu thích âm nhạc có thể nói chuyện về những nét riêng đặc sắc của Mozart, Chopin, thích hội hoạ thì nói về Picasso, Van Gogh....v. v. Nghĩa là có sự cảm thông, đồng cảm về tình thần, sau đó mới đi vào tình cảm, vuốt ve mơn trớn nhau, hôn hít nhau, và cuối cùng mới quan hệ với nhau. Đây là hình thức quan hệ của tao nhân mặc khách, nói theo Liêu Trai là "nói xong bèn giao hoan". Ông Bồ Tùng Linh rất ý nhị ở chỗ này. Mà người dịch ra tiếng Việt cũng rất tinh tế ở chỗ này. He...he.
Nếu chia theo tuổi tác thì giao cấu là của các cậu trai cô gái mới lớn, thẻm khát và sung mãn. Giao hợp là hình thức của đa số những cặp tình nhân, và là hình thức phổ biến nhất hiện nay.
Còn hình thức 3 giao hoan là hình thức làm tình cao cấp của giới trí thức, văn nghệ sĩ v.v. và của người lớn tuổi, người khó tính vv.v.
Nói theo 3 cấp độ trên thì tôi có thể trả lời mình là người VN, có lẽ làm tình với người VN là thích hợp nhất, còn với người nước ngoài, hai bên nói nhiều nhưng không hiều nhau, có khi chỉ là ra dấu nhau theo ngôn ngữ esperantay thì còn gì là thú vị, mà chỉ còn là bản năng giữa hai giống đực cái. Như thế chỉ là Giao cấu mà thôi.
Tui nghe sao thì ghi lại vậy, trúng trật tuỳ người đọc hê...hê
Viết đến đây thì tui chợt nhớ còn từ GIAO LƯU, hôm nào tui hỏi cho rõ từ này vì nó cũng có chữ GIAO kkkkkkk
9.9.2018
DODUYNGOC




Sài Gòn mấy hôm trời âm u. Mưa không lâu mà trời thiếu nắng. Bỗng nhớ Mạ, và thèm một tô canh mít non nấu với tôm Mạ nấu. Món ăn dân dã ấy bây giờ lại ít thấy, ít khi có dịp để ăn. Đó là món ăn của người miền Trung, vì bát canh mít non phải nêm bằng ruốc mới ngon, mới đậm đà đúng điệu. Có đôi lần ăn quán, thấy có canh mít non, mừng hú, gọi liền một tô, nôn nao chờ thưởng thức. Bát canh bưng lên, ngửi mùi đã thấy không hương không vị vì nêm bằng bột ngọt, bột nêm, cái hứng thú thưởng thức xìu như bánh bị xì hơi. Cái ngon, cái độc của tô canh mít non chính là cái mùi ngạt ngào của ruốc, mùi của hương vị quê nhà, thiếu miếng ruốc, nó thành tô canh mít luộc.
Canh mít non là món ăn dân dã, cách nấu giản đơn, nguyên liệu chẳng cầu kỳ. Tôm bóc nõn, tôm nhỏ thôi, là món ăn bình dân, không cần tôm lớn đắt tiền. Đem tôm rửa sạch, giã thô giập. Xong ướp chút muối, chút tiêu. Mít non thái lát hoặc xé từng miếng vừa ăn. Mắm ruốc hoà với nước ấm, lọc bỏ xác lấy nước cốt. Bắt nồi cho nóng, bỏ chút dầu hoặc mỡ, phi hành thơm, cho tôm vào xào chín. Đổ nước vào, cho chén nước ruốc vào, đợi sôi. Cho mít non vào, đun sôi cho đến khi mít mềm, đừng cho chín nhão quá, hết ngon. Nêm nếm vừa ăn, ăn cay thì cho chút ớt bột. Bắt nồi canh xuống cho lá lốt cắt ngắn vào rồi múc ra tô. Tôm ngọt, mít bùi, lá lốt có mùi hương đặc trưng quyện với mùi ruốc nồng nàn làm cho tô canh có nhiều hương vị và đậm đà. Theo tui, còn ngon hơn canh cá, thịt. Mít non còn nấu được với cá tràu, cá chuồn, mùa nào thức nấy. Nhưng với tui, có lẽ nấu với tôm là ngon hơn cả.
Nhớ và thèm tô canh mít non, là nhớ những kỷ niệm. Là nhớ lại một thời còn bé ở nhà, Ba Mạ và anh em xúm quanh bàn ăn, ngoài kia ào ạt những cơn mưa, cơn gió lạnh của miền Trung, húp một miếng canh, lòng ấm áp. Ấm áp vì còn Ba còn Mạ, còn đủ anh em. Chiều nay nhớ Mạ, nhớ Ba, nhớ anh Hai, những người đã khuất. Nhớ bát canh và nhớ mọi người, muốn khóc. Thèm được ngồi trước bát canh đơn sơ ấy để nhớ lại tất cả. Một ký ức không trở lại. Những người đã đi mãi không về nữa.
6.9.2018
DODUYNGOC




Khoảng trời xám ai thả đầy nốt nhạc
Chiều trôi đi ta mang vợt vớt về
Trăng tròn trịa bên kia bờ ảo giác
Con đường nào kéo suốt nẻo lê thê
Người loay hoay lối về không đốm lửa
Tiếng kinh cầu dưới thập tự mênh mông
Cả thế giới chẳng còn đâu cánh cửa
Chúa bỗng buồn trong tịch mịch trống không
Trăng rồi lặn âm thanh kia sẽ tắt
Người bơ vơ đứng giữa cõi thiên hà
Cơn cuồng nộ làm thịt da tím ngắt
Cuối chân trời chẳng tìm thấy đường ra
Hoa không nở cây đâm chồi héo úa
Đất nhấp nhô những phiến đá vô tình
Người vấp ngã ngồi buồn thân goá bụa
Ta trở về chịu khóa miệng làm thinh
Những nốt nhạc như bướm bay dìu dặt
Chỉ là trò trá nguỵ lọc lừa nhau
Trang lịch sử một nhóm người khoá chặt
Nỗi buồn này đau đến tận đời sau.
Tháng 3.2010
DODUYNGOC


Dật dờ dặt dẹo
Cơn đau đến từ hôm qua
Như dao cứa
Mồ hôi ứa và người hầm hập sốt
Chẳng còn mộng mơ
Chẳng còn cảm xúc
Chỉ muốn chết
Chỉ muốn đôi chân rời khỏi thân thể
Để chẳng còn cơn đau
Bò như con thú
Nước mắt chảy
Nghiệp này là nghiệp gì
Mà cứ hành hạ mãi
Níu cánh cửa đứng lên
Ngã vật xuống
Khớp xương như vỡ
Ai đang cầm búa gõ vào đây
Thần kinh căng
Không còn là người
Thân thể đầy tiếng động của cưa, của kềm, của dao nhọn
Khoét sâu những vết đỏ sưng tấy
Bật người ngã ra sau vùng vẫy
Chẳng có bàn tay nào đưa để níu lên
Câm lặng hai giòng nước mắt
Giọt nước mắt héo khô của người già thương thân mình
Cảm thấy cô đơn
Chẳng có ai cứu được mình
Trong cơn đau của địa ngục
Lũ quỷ chạy vòng quanh bật những mũi khoan
Đục lỗ các khớp
Không máu chảy nhưng vết đau buốt óc
Não cũng hết sức chịu đựng
Mệt nhoài
Lại bò như con thú
Bên kia bàn có lọ thuốc ngủ
Chỉ cần một nắm
Sẽ giã biệt cơn đau
Trườn đi như rắn
Trông dị hợm như một quái thai
Thở phì phò
Cơn đau xé nát một ngày
Cơn đau xé nát phận này
Xuôi tay
Níu chiếc ghế đứng lên
Chiếc ghế nghiêng ngả đổ
Rơi rơi giữa sàn
Nằm đó nhìn trần nhà
Chẳng có ai trong căn phòng tối
Cơn đau vẫn hiện hữu
Không còn biết gì ngoài cơn đau
Ta vẫn tồn tại để nghiến răng bật máu
Chỉ có một giấc mơ
Đứng thẳng dậy và đi
Như một con người.
6.9.2018
DODUYNGOC


Nửa đêm gió chạy hàng hiên
Tưởng ma tháng bảy mấy miền ghé chơi
Nhồi cối thuốc rít mấy hơi
Nhìn ra lá rụng nghiêng rơi góc vườn
Đang rằm nguyệt quế toả hương
Dế say hoa ngát sương vờn thẫm vai
Tiếng đêm luồn khẽ vào tai
Dưới thềm bóng đổ cửa cài lá xanh
Người ngồi đợi lúc sang canh
Tiếng kinh khoan nhặt thẫm cành héo khô
Lạc loài có tiếng Nam mô
Mõ thêm nhịp gõ Tăng hô chuông rền
Gác nỗi buồn lại một bên
Thở thêm hơi nữa lênh đênh phận người
Chắp hai tay nở nụ cười
Buông xuôi hết thảy máu tươi thắm lòng
Gió đi vào chỗ có không
Toả ra khắp chốn thêm nổng nhân gian
Qua rồi mấy thuở gian nan
Đêm sâu đốt lửa đem hàn nỗi đau
Người ngồi bóng tối qua mau
Trăng kia vừa khép phía sau hiên nhà
Xếp chân giữa cõi ta bà
Thấy thân trôi giạt hồn tà tà nghiêng
Đêm đầy gió mộng bình yên
Đẩy người đi đến một miền rất xa
6.9.2018
DODUYNGOC

Hôm nay cháu nội tui dự lễ khai giảng đầu tiên trong đời đi học. Năm nay cháu vừa vào lớp một. Cháu thì nôn nao vì là được tham dự lễ, nhưng tui thì lo ngay ngáy. Bởi hôm qua cháu sốt, sáng nay người còn nóng hầm hập. Mà lễ khai giảng của các trường hiện nay thường kéo dài lê thê, học sinh ngồi dưới nắng để nghe những lời vô bổ và nặng phần trình diễn hình thức, không biết cháu tui có chịu nổi không?
Tui không hiểu là học sinh đã đến trường gần nửa tháng nay rồi, đã bắt đầu học hành rồi thì lễ khai giảng hôm nay còn ý nghĩa chi không, hay chỉ là một màn trình diễn của những người lớn với nhau. Ngày xưa, lễ khai giảng là ngày tụ hội, gặp lại bạn bè, Thầy Cô sau ba tháng hè. Là ngày được lên lớp mới, với Thầy Cô mới. Một ngày ý nghĩa. Còn bây giờ, trước đó đã lặng lẽ vào trường, âm thầm nhận lớp, rồi tập dượt xếp hàng, tập phất cờ, tập hát, tập đi, tập phát biểu, tất cả để phục vụ cho buổi khai giảng hôm nay. Hình thức cả. Đóng kịch cả. Học sinh chẳng còn chút rung động hồn nhiên nào của buổi khai trường để mở đầu một năm học mới.
Buổi lễ khai giảng của bất cứ nhà trường nào hiện nay đều chỉ có một kịch bản. Toàn là những diễn văn. Đọc thư chủ tịch nước gởi các em học sinh, nội dung thư chung chung, năm nào cũng như năm nào, ông nào cũng viết giống nhau. Rồi diễn văn của hiệu trưởng dài lê thê, kể về thành tích năm qua và kế hoạch năm tới. Rồi phát biểu của đại diện Phòng, Sở Giáo dục. Phát biểu của quan chức địa phương. Rồi chủ tịch công đoàn trường phát động thi đua, đại diện Thầy Cô hứa hẹn phấn đấu dạy tốt, đại diện học sinh phấn đấu học tốt. Rồi đại diện phụ huynh học sinh. Rồi phát thưởng, rồi cả trường hưởng ứng thi đua. Rồi đánh trống trường, rồi văn nghệ...Tất cả chẳng có tác dụng gì đến những đứa học trò héo queo dưới nắng và mệt mỏi vì phải chịu ngồi hàng giờ không được chạy nhảy, ngáp lên ngáp xuống với mồ hôi nhễ nhại. Tất cả đều để phục vụ cho người lớn, tất cả đều chỉ đóng trò. Đó là chưa kể có trường còn mời một ông bà nào đấy, có thành tích cách mạng hoặc có chút thành công, có chút tiếng tăm lên nói chuyện hàng giờ tự kể công và tâng bốc mình. Có nơi còn mời ca sĩ, ban nhạc ò í e như đại nhạc hội, học sinh, cô giáo nhảy nhót như ở vũ trường, sau lễ lại còn có tiệc tùng chiêu đãi!!!! Mà bây giờ người ta lạm dụng cờ dữ quá, lễ nào cũng đỏ rực cờ là cờ, rồi mỗi học sinh cũng cẩm một lá cờ, cả một khoảng sân đỏ như lửa cháy.
Theo tui chỉ cần hiệu trưởng và Thầy Cô chào mừng cuộc gặp gỡ của Thầy trò sau ba tháng hè, đánh trống mở đầu năm học mới và nếu cần, phát biểu của một đại diện học sinh với những suy nghĩ hồn nhiên của lứa tuổi các em. Thế là đủ. Mọi nội dung khác, nếu cần thiết có thể phổ biến bằng văn bản. Bởi đây là ngày hội của học sinh. Nên nhớ rằng, trong trường học, học sinh là chủ thể quan trọng chứ không phải chỉ là những kẻ ăn theo người lớn.
Lễ khai giảng nên gọn nhẹ, trang nghiêm nhưng tình cảm để mở đầu một năm học. Đây không phải là lúc khoe công, cũng không phải là nơi để người lớn dông dài những điều vô bổ. Làm được thế, học sinh cảm thấy thoải mái, nhà trường cũng không tốn nhiều công sức, tiền của cho buổi khai trường. Đồng thời còn giữ được sức khoẻ cho những cô cậu học trò, chuẩn bị cho năm học mới. Đến trường là để học chứ không phải để đóng kịch.
5.9.2018
DODUYNGOC

Bóng xưa đột ngột giăng hàng
Cánh chuồn chuồn đỏ ngập tràn giấc mơ
Bụi tre xanh chợt bất ngờ
Kĩu kà kĩu kịt đợi giờ gió lên
Có nhiều nỗi nhớ không tên
Kéo ta trở lại đời thêm vật vờ
Buông câu kéo cá lên bờ
Con trâu ngái ngủ bỗng ngơ ngác nhìn
Xóm làng trưa nắng lặng thinh
Chuyến xe lửa vội thình lình chạy qua
Tiếng còi báo với sân ga
Thả âm u lại mái nhà lợp tranh
Dưới bàu sen núp lá xanh
Cỏ hoang lác đác rủ cành mặt ao
Tiếng cu gáy giọng nôn nao
Cành khua tiếng động con chào mào bay
Ô hay kinh rớt trên tay
Tiếng chuông rơi xuống luống cày mạ lên
Mái chùa cong vút nhẹ thênh
Bóng ni cô ngả bên thềm tưới hoa
Trở về nhớ tiếc mẹ cha
Cài bông hoa trắng nhập nhoà khói hương
Giấc mơ lặng lẽ giọt sương
Giật mình tuổi đã bám giường chân xiêu
Cơn mơ gợi những tin yêu
Một thời xanh tóc với nhiều khát khao
Giờ thân run giọng thì thào
Giữa bàu Thạc gián đành chào hôm qua
3.9.2018
DODUYNGOC

Hôm trước có viết một bài về Bàu Thạc Gián, còn có tên là Bàu Lác. Nơi tui có nhiều kỷ niệm lúc tuổi còn bé. Một ông bạn già của tui đang định cư ở Canada nhắn về bảo rằng ở Bàu Thạc Gián có cái đình to lắm, sao không nhắc tới. Ừ! Đúng rồi, nói đến vùng Thạc Gián, nhắc tới Bàu Thạc Gián mà không đề cập đến cái Đình Thạc Gián là chưa đủ bộ, vẫn còn thiếu thiếu, bởi Đình Thạc Gián là một trong những di tích lâu đời của vùng đất này, là niềm tự hào của người dân đất ấy. Nên phải nhắc cho cháu con, cho thế hệ đời sau biết để giữ gìn và tôn tạo.
Thời còn bé, tui cũng thường đến đình này chơi. Đình nằm gần Bàu Thạc Gián. Hồi nhỏ, đối với tui, đây là nơi trang nghiêm nên dù rất nghịch ngợm, khi đến đây tui luôn có một sự tôn kính. Tui thích nhất là khoảng sân trống trước đình, trồng hai hàng mù u cao tít. Thuở bé thấy gì cũng rộng, cũng lớn nên tui vẫn hình dung cái sân ấy mênh mông trong trí tui cho đến bây giờ. Thời thanh niên, tui đến đó, nghe chim hót, lá xào xạc từ những bụi tre trong xóm gần đấy, nhìn màu xanh mát mắt của cỏ cây, lòng thấy thanh thản với những ý nghĩ thánh thiện. Có lẽ vì vậy mà có một thời tui gần gũi với kinh kệ và ham đọc sách về giáo lý nhà Phật, khoái đọc sách Thiền. Lượm những trái mù u làm những viên bi để chơi bắn bi, cho mấy đứa em gái chơi đồ hàng, lại ngửi mùi là lạ của tinh dầu mù u phát ra từ trái, lại thấy vui vui. Lại nghe dầu mù u dùng được chữa nhiều bệnh, nhất là những bệnh về da nên càng khoái lượm về để đầy hộc tủ.
Được biết, căn cứ theo lời của truyền thuyết và các văn tự, văn bia… còn giữ được, Làng Thạc Gián vốn ban đầu có tên là Thạc Giản và nhiều cách gọi khác như Thạch Giản, Thạch Gián là mảnh đất được khai phá sớm, vào khoảng nửa thế kỷ XV, hình thành sau khi vua Lê Thánh Tôn mở mang bờ cõi đất nước về phương Nam vào năm Canh Thìn – 1470. Ngài Huỳnh Văn Phước đã từ miền Bắc là người chiêu tập dân binh vào khai khẩn vùng đất Thạc Gián. Lần lượt các bậc tiền nhân của các Tộc Nguyễn Ngọc, Tộc Lê, Tộc Ngô, Tộc Phạm, Tộc Trương, Tộc Trần đã tiếp tục khai canh, khai cư xây dựng nên làng Thạc Gián.
Trong quá khứ, Thạc Gián là một làng rộng. Cho đến đầu thế kỷ XIX, địa giới: Đông giáp làng Hải Châu và thẳng đến Vũng Rong; Tây giáp làng Xuân Đán, vịnh Đà Nẵng và Nam giáp các làng Bình Thuận, Liên Trì (nay thuộc phường Hòa Thuận Đông, Hòa Thuận Tây, quận Hải Châu).
Ngày xưa, khi chưa có đường đèo Hải Vân, từ Huế vào Đà Nẵng phải đi bằng đường biển. Một đường vào cửa Thanh Bình, theo lạch lên bến sông trước đình Thạc Gián. Một đường vào cửa sông Phú Lộc, đi qua Quán Cơm, rồi đến vùng Thanh Lộc Đán ngày nay.
Như tên gọi, địa danh Quán Cơm là nơi có quán cơm cho khách bộ hành vãng lai. Cửa sông Phú Lộc xưa nước trong xanh, tương truyền, khi Cao Bá Quát qua đây, nhìn cảnh sắc lạ lùng, bảo: Đất nước mình phong phú thật, ngay sát cửa biển lại có một vùng Thanh Khê (khe nước xanh), trong khi ở Trung Hoa thì trên núi mới có.
Sau khi thực hiện công cuộc khai khẩn, khai canh, khai cư hoàn tất, khi cư dân bước đầu có cuộc sống ổn định. Các vị tiền hiền làng Thạc Gián lúc đó đã kêu gọi cư dân xây dựng Đình Làng Miếu Vũ nhằm đưa hồn thiêng quê cũ vào vùng quê mới. Thực hiện tín ngưỡng Thờ Phụng Tổ Phụ, Tổ Mẫu, Anh hùng dân tộc, các Bậc Tiền nhân, Tiền hiền. Đình được dựng lên từ ý tưởng ấy.
Ban đầu, ngôi Đình xây dựng bằng tre; nằm riêng trên một khu đất giáp với bàu sen, gọi là bàu Làng, nối với biển Thanh Bình bằng một con lạch nhỏ. Đời Minh Mạng (1819-1040) được làm lại bằng gỗ, mái lợp tranh; Năm Tự Đức thứ Bảy (1854) các bậc kỳ lão trong làng đã đứng ra vận động nhân dân trong làng kiến tạo lại ngôi Đình bằng gạch, mái lợp ngói âm dương; năm Duy Tân thứ Ba (1909), dân làng lại cùng nhau góp sức tôn tại Đình.
Vào năm Khải Định nguyên niên (1916) dẫn làng một lần nữa lại góp công tu sửa Đình do bão tố làm hư hại.
Đình làng Thạc Gián có diện tích rộng hơn 2.000mét vuông, giờ đây lọt thỏm giữa khu dân cư đông đúc tại con hẻm nhỏ gần ngã ba Cai Lang, thuộc Tổ 5, Phường Chính gián, Quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng.
Trải qua mấy trăm năm tồn tại, qua bao biến cố của thời cuộc, tàn phá bởi thời gian và mưa nắng, quần thể di tích gồm đình làng, nhà hồi hương, nhà trù, miếu âm linh - những nét độc đáo của văn hóa làng ở Đà Nẵng vẫn còn nguyên giá trị. Nhà hồi hương đấu lưng với đình làng, có ba bộ cửa thoáng đãng, từng là nơi hội họp của các bậc kỳ lão, hương thân, chức sắc trong làng. Khi đình còn tranh tre thì nhà hồi hương được gọi là dịch trạm - nơi dừng chân ngơi nghỉ của quân lính đưa văn thư hoặc các quan từ Huế vào.
Mái đình lợp ngói âm dương, bờ nóc được trang trí hình “lưỡng long triều nguyệt” ghép bằng sành sứ, các bờ góc được trang trí hình rùa và phượng. Diềm mái hiên gắn đĩa men lam Huế. Đình có hai bộ phận kiến trúc chính là nhà chính điện và hậu tẩm nối liền phía sau.
Đáng chú ý ở trước sân đình, hai bên bình phong có cặp voi phục được xây bằng gạch, vôi vữa chầu vào chính điện. Về phía Đông Bắc của đình là miếu âm linh, phía sau đình có một nhà hồi hương được xây dựng bằng gạch, vi kèo, đòn đông bằng gỗ, mái lợp ngói âm dương, nền lát gạch… Nơi đây, ngày xưa là nơi hội họp của các bậc kỳ lão, hương thân, chức sắc. Hai gian tả, hữu mọi người dự họp tùy theo thứ bậc, tuổi tác mà ngồi trước hoặc sau. Đây là nơi để các vị chủ tế, bồi tế, học trò gia lễ, các chấp sự…chuẩn bị lễ phục trước khi vào tế lễ. Sau khi tế lễ, nhà hồi hương còn được dùng làm nơi dân làng ăn cỗ.
Đình có một cái giếng xưa. Nhiều buổi trưa nắng, lang thang ở đó, tui thường dùng gàu múc lên những gàu nước lạnh mát, ngon còn hơn những chai La Vie bây giờ. Nghe nói giếng làng đã trên 200 năm, nước rất tốt, mỗi khi có cúng giỗ, lễ Tết, dân làng gánh nước về nấu cúng. Chếch về phía hữu đình có miếu Âm linh với tấm bia sa thạch ghi bốn chữ Hán “Thạc Gián xã Nghĩa trũng” được lập năm Thành Thái thứ 19 (Đinh Mùi - 1907).
Ngày xưa ở Đình có lưu giữ và chôn cất một số hài cốt của các nghĩa sĩ hi sinh rong các cuộc chiến đấu, Sau này, cốt của các anh hùng nghĩa sĩ an táng ở nghĩa trủng đó đã được dời lên Gò Cà. Đình làng hiện còn lưu giữ 18 sắc phong, 38 chiếu chỉ của các triều đại hậu Lê, Nguyễn. Tuy thế, lúc còn nhỏ mỗi lần bước vào chánh điện của Đình, nhất là những trưa vắng, tui vẫn cảm thấy rờn rợn. Đúng là hồi đó tui nhát gan thiệt.
Ở ngoài sân đình có xây một bình phong, trên đó đắp nổi bằng những mảnh sành màu một con bạch hổ rất đẹp. Tui cũng sợ khi nhìn đôi mắt của bạch hổ, đôi mắt đe doạ thằng bé nhiều tưởng tượng.
Ngôi đình được xây dựng điều hoà âm dương theo quan niệm phương Đông. Âm dương hiện hữu ngay trong cấu trúc của ngôi đình với những chi tiết: cổng tam quan, bức bình phong và lối kết cấu rường chồng ở phần mái của ngôi đình. Triết lí âm dương không những có một vị trí thiết yếu trong việc tạo lập sự bền vững ở kết cấu của ngôi đình mà còn tôn lên những giá trị, phẩm chất đẹp của con người. Đó chính là những giá trị văn hoá của người Việt mà ta có bổn phận phải giữ gìn.
Lâu lắm rồi, tui mới về thăm lại Đình sau khi đã chiêm ngưỡng biết bao lâu đài tráng lệ, bao nhiêu nhà thờ cao vút ở Châu Âu và những di tích kỳ vĩ trên thế giới. Đẹp đấy! Nhưng với tui, nó thiếu hồn của riêng mình, nó không có kỷ niệm của riêng ta, nó không có ký ức của một thời của một cá nhân là ta. Nên khi trở về nhìn cái Đình nho nhỏ, trầm mặc với thời gian, khép nép giữa những ngôi nhà, sau những hàng cây lại chứa bao nhiêu hình ảnh của ký ức, bao nhiêu kỷ niệm của một thời, lòng lại thấy rộn ràng, mừng vui như tìm lại được cái tưởng là đã bị đánh mất. Có phải chăng là hồn của một di tích, hồn vía của quê nhà.
Những cây mù u đã chết với thời gian, con bạch hổ bằng sành không khiến tui sợ nữa, nhưng trong tôi, lòng tôn kính ngôi Đình mấy trăm tuổi với nhiều vết tích thời gian, với những giá trị của một vùng đất, một dân tộc, một giá trị văn hoá mà khi bay đi bốn bể vẫn không tìm thấy được vẫn còn mãi.
Lòng bỗng rưng rưng.
Có lẽ hồn rêu xanh, xanh mãi ở trong lòng.
3.9.2018
DODUYNGOC
( Bài viết có sử dụng một số tư liệu và hình ảnh của Cổng TTĐT Thành phố Đà Nẵng và nhà báo Văn Thành Lê)

Bỗng dưng mưa rụng giữa đường
Tiếng ai kêu ở bên vườn bỏ không
Gió bơ vơ lượn triền sông
Ta hiu hắt nhặt cành bông héo tàn
Mưa rồi tan nắng xếp hàng
Có khi đừng tính chuyện ràng buộc nhau
Đời biến đổi thời qua mau
Trách chi mấy chuyện phai màu áo xưa
Hãi hùng thân phận te tua
Đau khi về biển hận mùa phân ly
Lúc lên núi đợi hạn kỳ
Hoá ra rừng rú li bì giấc sâu
Chỉ mình ta ngóng buồm nâu
Ở nơi tít tắp nỗi rầu ruột gan
Người về làm cuộc ly tan
Bên bờ ta đứng uống tràn đợi mơ
Hết đời chưa đã bơ phờ
Bờm xờm râu tóc mắt mờ chân run
Mũi tên lắp sẵn vào cung
Đến giờ hết kiếp cuối cùng buông tay
Trời đồ mưa thế mà hay
Không còn chỗ trú ăn mày hương xưa
Trần truồng đứng đội nước mưa
Chợt nghe thân thể như vừa tái sinh
3.9.2018
DODUYNGOC


Mấy tuần nay, liên tiếp cứ năm, ba hôm một lần điện thoại ở nhà reo. Nhấc máy thì có giọng một cô gái thông báo là tui có một bưu phẩm nước ngoài gởi về mà chưa thấy nhận, đề nghị bấm số 9 để biết thêm chi tiết. Tui vốn đa nghi và dù thường xuyên nhận những món hàng mua trên mạng của nước ngoài nhưng lúc nào cũng rất cảnh giác mấy cái vụ thông báo này. Bởi thông thường trong các vụ mua hàng tui chưa bao giờ cho số điện thoại nhà, chỉ sử dụng số điện thoại di động. Do vậy rất nhiều lần khi nghe thông báo như thế, tui thường cúp máy ngang, chấm dứt trao đổi.
Hôm nay trò ấy lại tái diễn, trời mưa chẳng đi đâu, lại đang rỗi, tui lắng nghe xem diễn tiến thế nào. Sau khi báo tui có bưu phẩm chưa thấy nhận, bên kia đề nghị bấm số 9 để biết thêm chi tiết. Tui bấm số 9, lại một giọng nữ miền Nam hỏi tui có tài khoản trong VCB phải không? Tui ừ, hỏi có gì không? Bên kia báo tui đang nợ ngân hàng 360 triệu đã sử dụng nhưng chưa thanh toán. Tui cười hô hố vì biết tỏng tong là đang bắt đầu một trò lừa đảo nên bảo rằng: Cô em lộn người rồi, tui không có xài thẻ ngân hàng nhé, mà tui cũng chưa bao giờ sử dụng số tiền lớn như thế từ ngân hàng. Bên kia lại bảo: Xin lỗi. Em lộn. Chỉ có 36 triệu thôi. Tui gẳn giọng: 36 triệu cũng không có nhé. Bây giờ sao đây? Sao đầu tiên là báo bưu phẩm, sang đây lại báo nợ là sao? Lại trả lời: Dạ bên kia là tổng đài tự động, bên này là thông báo về tài khoản ngân hàng, anh liên lạc số xxxxxx để được hướng dẫn tiến hành thanh toán số nợ đã sử dụng. Nếu không ngân hàng sẽ đưa ra pháp luật giải quyết.
He..he trò dọa nạt trẻ con. Chỉ có những người có dây dưa tiền bạc với ngân hàng mới lưỡng lự hồ nghi. Còn tui trên râu dưới dế héo, can chi phải thắc mắc, lại rõ như ban ngày đây là màn lừa người nhẹ dạ.
Tui biết trò lừa đảo đã hiện hình, nên nhấn giọng: Chấm dứt ngay trò này đi nhé, đừng có rung cây nhát khỉ. Tui thách chuyện đưa ra pháp luật đấy. Tui sẽ truy tố các người thì hợp lý hơn, nhưng các người là lũ dấu mặt. Nên chấm dứt những trò lừa đảo này đi.
Bên kia cúp máy. Không biết rồi cái trò nảy có diễn lại nữa không. Chán thật! Thời thế gì mà lắm trò lừa đảo thế? Trước kia, những trò này dùng các cô nói giọng chua loét của miền ngoài, bây giờ chúng lại sử dụng các cô giọng Nam, có lẽ chúng hi vọng đối với người Nam sẽ tin người giọng Nam hơn chăng? Chán thật! Suốt ngày lúc nào cũng phải đề phòng với cảnh giác. Toàn gặp chuyện lừa đảo, riết rồi chẳng biết tin ai? Ở đâu mà sản sinh ra lắm kẻ lừa lọc thế không biết?
3.9.2018
DODUYNGOC


Hồi xưa ở Đà Nẵng có cái bàu lớn lắm. Hoặc có lẽ lúc đó tui còn nhỏ nên thấy nó lớn. Nó nằm ở trong hẻm bến xe chợ Cồn đi vào. Khu đó thì có nhiều hẻm lắm, hẻm nào cũng vô tới bàu. Còn đi đường Ông Ích Khiêm xuống tới Hoàng Diệu thì kiệt nào cũng dẫn đến bàu. Nó nằm song song với đường rầy. Đi từ Ông Ích Khiêm xuống thì gặp một đường xe lửa, cứ men theo đường đấy thì một bên là nhà dân một bên là bàu nước mênh mông và ở giữa là đường tàu lửa chạy. Hồi tui học lớp nhất, ba tui bệnh một thời gian nằm điều trị trong cơ quan của ba tui là Tổng y viện Duy Tân, ngày nào tui cũng đi dọc theo đường rầy mang cơm cho Ba, thích lắm vì vừa đi vừa bắt chuồn chuồn, châu chấu, ngắm hoa và cỏ dại ven đường. Thú thế cho nên tui hay giành lấy việc này mà chẳng ngại trưa nắng, chiều mưa. Những trò mà ngày thường không thể nào làm được. Nhà tui ở khu Chợ Cồn trên đường Ông Ích Khiêm, hồi đó Ba tui nghiêm lắm, sáng phải thức dậy lúc năm giờ, trưa phải ngủ trưa. Tui hay trốn ngủ mò vô bàu để săn những con chuồn đỏ, những con chuồn chuồn có màu đỏ rực với hai cánh mỏng, đậu lắt lay trên cành lá cỏ hay những đọt cây thấp, những con chuồn chuồn voi to kềnh với hai con mắt to, hàm răng khoẻ cắn đau lắm. Có khi lại chạy theo những con chuồn kim bé xíu có thân dài ngoằng bé tẹo. Có lúc lại ngồi ở mấy gốc tre nghe mấy con chim chích chòe than hót trầm bổng giữa buổi trưa hè, thú vị lắm. Cũng có khi ngồi nhìn lên mấy đọt tre trên cao đung đưa xào xạc với gió, mê lắm. Khu này có nhiều cáy tre trồng hai bên vệ đường, lúc đó chỉ là những con đường đất đỏ, nên xóm này còn có tên gọi là xóm Tre. Hậu quả của những buổi trưa thơ mộng đó là những trận đòn nát đít, nhưng tui vẫn không chừa. Và cũng vì nó hoang vắng cho nên Ba tui hay đem quỷ ma ra doạ, Ba tui bảo khu đó toàn ma ở với người nên nhiều lúc trốn vô đó chơi mà thấy vắng quá lòng tui cũng hơi hoảng, nhất là khi nghe hai thân tre cọ vào nhau kêu kót két là lúc đầu toàn nghĩ chuyện ma bắt người đem vô bụi.
Khi lính Mỹ đổ quân vào miền Nam, khu đường rầy biến thành xóm đĩ. Lúc đó ai nói đi đường rầy là người ta nghĩ đến đi chuyện giải quyết sinh lý. Nơi nào có đĩ thì có du đãng, bụi đời, xì ke, thuốc phiện. Do đó, có một thời khu này khét tiếng lộn xộn, lính lác, cô hồn choảng nhau như cơm bữa.
Lúc mới lớn, có đôi chút chữ nghĩa tui cứ thắc mắc về cái chữ bàu này. Tìm hiểu thì được giải thích người miền Trung thường gọi hồ là bàu. Tui vẫn thấy hình như chưa đúng. Tìm hiểu mãi cho đến giờ cũng chưa trả lời được khi nào thì gọi là bàu và như thế nào thì gọi là hồ, là ao. Và giờ đây, người ta vẫn gọi là bàu Thạc Gián.
Theo những người nghiên cứu về Đà Nẵng thì xưa kia vùng này chia làm sáu xứ. Ở hữu ngạn sông Hàn là xứ Bà Thân (một trong các tiền hiền làng An Hải), là làng An Hải ngày nay. Năm xứ còn lại ở tả ngạn, có xứ Bàu Lác (xưa có nhiều cỏ lác, nay thuộc phường Thạc Gián, quận Thanh Khê) là cái bàu mà tui đang nói tới. Rồi đến xứ Rẫy Cu (ngày trước nơi đây có nhiều lùm bụi, vùng lý tưởng cho chim cò trong đó có loài chim cu đất sinh sống và là nơi hội tụ các tay say mê trò gác cu, nay thuộc địa phận các phường Bình Thuận, Hòa Thuận Đông, Hòa Thuận Tây). Xứ Giếng Bộng (gọi tên thế vì nơi đó có một giếng nước ngọt mát phục vụ nhân dân quanh vùng thuộc làng Nại Hiên xưa, nay thuộc phường Bình Hiên, quận Hải Châu). Tiếp đó là xứ Trèm Trẹm (hay gọi tắt là Trẹm, thuộc các phường Thiệu Bình, Thạch Thang). Cuối cùng là xứ Đà Nẵng, tức vùng trung tâm thành phố ngày nay, phần lớn nằm trên địa bàn các phường Hải Châu 1, Hải Châu 2.
Như vậy bàu Thạc gián chính là bàu Lác, một trong sáu xứ của Đà Nẵng xưa. Gọi tên bàu Lác vì khi xưa là vùng mênh mông cỏ lác, sau đó nó nằm trong khu Thạc Gián nên mang tên là bàu Thạc Gián. Hồi tui hay trốn vô đó, đất đai còn mênh mông lắm, đa số nhà nào cũng có vườn trồng tre và cây ăn trái. Nó như một vùng quê yên ả trong thành phố nhộn nhịp. Dân ở đây hồi đó cũng thường là bà con, giòng họ với nhau. Tui có nhiều người bạn ở vùng này, nhưng rất tiếc họ đã qua đời gần hết. Năm 1972, đôn quân, bạn Lưu Văn Thành ở đoạn đầu của xóm Tre tử trận khi mới ra trường Thủ Đức. Tiếp đó là bạn Ý cũng bị bắn tỉa trên càu ở Cẩm Lệ. Trong vùng này có ông Tùng, thầu khoán, giàu lắm, nhà cửa đất đai vô số kể. Con trai đầu của ông là anh Thành, du học Pháp, học ngành y, ra trường mở một bệnh viện khá nổi tiếng ở Pháp. Hồi nhỏ tui nể anh này lắm. Kế anh Thành là chị Minh, yêu một anh ở sát nhà tui, ảnh cũng tên Ngọc, hi sinh năm 1971. Ông Tùng này nhiều vợ, có một đứa con bà thứ, sống lang bạt kỳ hồ sau này vào sống căn biệt thự của ông ở cổng xe lửa số 6 Trương Minh Ký, hơi tưng, cũng chết mấy năm rồi. Một người bạn nữa cũng ở xóm Tre, bàu Thạc Gián, cũng là cháu ông Tùng này, học chung với tui ở trường Kỹ thuật thời trung học, tên Phạm Ngọc Chi, một người bạn hiền lành, năm trước đây cũng đi luôn trong giấc ngủ. Tui nhớ năm tui học đệ thất, một hôm được nghỉ mấy tiết cuối, tụi tui rủ nhau về nhà một người bạn ở bàu chơi. Nhà anh này ở bên kia bàu Thạc Gián, hồi đó đi vào như là về quê, trâu bò, rơm rạ đầy đường, lúa phơi giữa lộ, khói đốt mù mịt. Mấy thằng dân phố công tử bột như tui lấy làm lạ lẫm lắm. Đến khi về, đã quá trưa, cả bọn rủ nhau lội qua bàu về. Áo quần ướt sũng, tui sợ về bị đánh đòn nên cởi truồng vắt phơi cho khô, tồng ngồng bên xóm vắng, tui khóc tu tu vì sợ khi nghĩ đến bó roi mây của ba tui. Anh bạn Thể chủ nhà hôm đó giờ cũng mất rồi.
Đất ở khu này như thung lũng, trồi lên trụt xuống ngộ lắm. Tui nhớ ở vùng thung lũng đó có hai gia đình có nhiều cô gái xinh lắm. Đầu tiên là cô tên Hoá, con ông Giảng. Ông này làm nghề hàn máng xối, cao cao gầy gầy, mặt lúc nào cũng buồn buồn nhưng con gái ông thì quá xinh, bọn con trai ai cũng làm kẻ si tình. Khi tuổi vừa lớn, tui rời Đà Nẵng đi học xa nên không biết có ai trong xóm ấy có lấy được cô này không? Gia đình thứ hai là nhà ông Tư hớt tóc. Ông có một miếng đất ven đường Ông Ích Khiêm làm nơi hành nghề. Ông có ba bốn cô con gái, tuy nhà nghèo nhưng cô nào cũng có nhan sắc. Tui nhớ tên cô Liễu vì cô này trạc tuổi tui. Mấy cô này mà còn chắc đã lên chức bà cố, bà ngoại hết rồi.
Năm 1956, gia đình tui mới vào Đà Nẵng thì trong khu xóm Tre này có một ông giáo mở một lớp học trường làng. Ông tên Thức nên mọi người gọi là Thầy Thức. Trong khi mấy ông giáo làng còn mặc áo the đen với khăn đóng thì Thầy Thức luôn mang bộ veston trắng, giày da trắng, đội mũ phớt và đôi lúc cầm baton trông rất ư là thanh lịch. Thầy Thức là dân Tây học dù vợ chỉ là người bán gà vịt đã nhổ lông ở Chợ Cồn. Tui không học trường này nhưng anh Hai tui thì tốt nghiệp lớp ba trường làng rồi mới vào trường Nam tiểu học. Tuy không học với Thầy Thức nhưng tui ngưỡng mộ Thầy lắm. Mỗi lần gặp Ba tui, hai người nói chuyện bằng tiếng Pháp với phong cách thật thanh lịch. Cung cách ấy sau này tui không tìm thấy nữa ở ngoài xã hội, kể cả ở muền Nam những năm gần 75.
Năm 1966, tướng Nguyễn Chánh Thi cùng với Phật giáo miền Trung ly khai. Ông tướng này là chồng của Dì Tá, là chị của Mạ tui cho nên tui gọi là dì. Ông Nguyễn Cao Kỳ cho quân nhảy dù ra đánh, súng nổ tơi bời. Nhà tui dính hai trái M79, sợ quá cả nhà chạy vào xóm Tre tránh đạn. Đó là lần đầu tiên tui biết súng nổ đạn bay của chiến tranh. Cả nhà tui tạm lánh ở nhà ông Tư hớt tóc, nhà có nhiều cô gái xinh xinh đấy. Nhưng lúc đó sợ quá nên cũng chẳng dám nghĩ chuyện ghẹo gái.
Bàu Thạc Gián, xóm Tre là nơi tui có nhiều kỷ niệm. Những kỷ niệm gắn với tuổi thơ và thời mới lớn. Cuối những năm 60 của thế kỷ trước, tui rời Đà Nẵng đi học xa rồi chẳng có dịp trở về. Rồi biến cố của lịch sử, tui chẳng còn ai thán thuộc để có cớ mà về. Đến khi bắt đầu già, nhớ quá khứ, trở về thăm thì cảnh chẳng còn như xưa nữa. Bàu Thạc Gián, xóm Tre giờ giống như bài Sông Lấp của Trần Tế Xương:
Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò
Bàu Thạc Gián giờ thuộc quận Thanh Khê, chỉ còn là cái ao bé xíu. Chung quanh người ta xây cao ốc rầm rộ. Bàu lấp thành đất vàng. Vào xóm Tre cũng chẳng còn tre, nhà cửa lố nhố, bạn cũ chẳng còn, người xưa đâu tá? Vẫn biết cuộc bể dâu là quy luật của đất trời, sao lòng bỗng thấy thật buồn. Tìm nhà bạn cũ, cũng một thời học cùng trường, bố bạn ấy làm điền địa, cũng khá thân với Ba tui, lại thấy hình bạn ấy đặt trên bàn thờ, ánh mắt trong hình buồn bã nhìn mọi người. Bạn ấy là Trương Minh Tú có nick name là Tú Bà. Cảnh chẳng còn, người đã mất, lòng lại buồn hơn.
2.9.2018
DODUYNGOC

QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ là những cuốn sách được xuất bản và tái bản nhiều lần từ năm 1923-1948, do bốn tác giả Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình phúc và Đỗ Thận biên soạn.

QUỐC VĂN GIÁO KHOA THƯ cùng cuốn LUÂN LÝ GIÁO KHOA THƯ là một trong những cuốn sách giáo khoa tiếng Việt được dạy song hành ở các trường tiểu học Việt Nam trong suốt những thập niên thuộc nửa đầu thế kỷ 20. Trước năm 1975, ở miền Nam cũng sử dụng sách này.
Những bài trong sách coi trọng vấn đề luân lý, đạo đức con người, dạy cho trẻ một cách sống lành mạnh, có đạo đức, có lòng nhân ái, nó không chỉ là một môn học thông thường mà là một nội dung lớn xuyên suốt quá trình phát triển trí óc và tâm hồn trẻ thơ.
Ta hãy đọc lại một bài đọc trong cuốn sách này:
Không nên phá tổ chim
Thằng Sửu thấy ở trên cành cây có một tổ chim chích chòe, ba con chim mới nở, thì lấy làm mừng lắm.
Nó trèo lên, bắt xuống, để chơi. Chị nó trông thấy, ngăn lại mà bảo nó rằng:
- Em ơi! Chớ nên bắt! Chim nó đang sung sướng thế mà em bắt nó, thì nó cực khổ biết là dường nào! Em thử nghĩ chốc nữa, mẹ nó tha mồi về, mà không thấy con, thì đau đớn thế nào. Và những con chim con ấy mà em bắt về, thì dẫu em chăm chút nó thế nào, nếu nó không chết thì cũng chẳng sao bằng mẹ nó săn sóc, nuôi nấng nó được. Thôi em ơi! Em đừng làm khổ nó vô ích, đem trả lại cho mẹ nó. Sau nó lớn lên, nó bay, nó lượn, đẹp mắt em, nó kêu, nó hát, vui tai em, nó ăn sâu, ăn bọ thì hoa quả thóc lúa của nhà ta và của thiên hạ được đỡ hại.
Sửu nghe chị nói, lại đem cái tổ chim lên để vào chỗ cũ.
Giải nghĩa:
Tổ:(tiếng quen dùng miền Bắc): Tức là ổ.
Chăm chút: Săn sóc, nuôi dưỡng chu đáo.
Lượn: Bay đi bay lại nhiều lần.
Thiên hạ: Mọi người.
Nguồn: Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc
Và hãy xem một bài trong sách giáo khoa hiện nay. Bài này lại dạy cách xử sự lừa đảo, tráo trở. Đồng thời dạy các trẻ thói ăn cắp, hái quả của người khác mà không xin phép.(xem hình)
Không hiểu những người soạn sách giáo khoa bây giờ nghĩ gì khi soạn những câu chuyện phản giáo dục như vậy trong sách giáo khoa của trẻ em?


[pgallery] [img src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj0dE2tpGZfd7uMn0-pfaTAhPVfHetr_F9Am1txQxqP66PPD7bHHRrMg1S1Lp_dFbD1rh9PgXjOyne7wPc_4zjKGvDJEf4PfaZSNuJJ5FSSnesO8aglpedu4JxBiuvksfSCodsa4WZZKi4/s1600/1.jpg"][/img] [img src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEgTVns1raHP2J_qtPhmXeVY3rNlgj2G8peGcYapYnF_rghRJXSrJgD_e0cvu-IC9x8mu9gIMI30KyJcOlVn7eeqFULZ5VcR1XV45hh1JKYdNDwZc4fWmTDXByBwjmi09A5KKoMhArD4ezI/s1600/2.jpg"][/img] [img src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEi_yCLH74-_9RcpfmvmhpPVl9j5xuQCQajhAc-v49qnLC02EnDEeBllo_WcZcrlCU-0gVi_4nwYmAWFskdXQGjSsjmhwhi30uaXhxtTd-97Gf6MZGX0LUYfkSNdU00AHgcMZpps-EAOzvc/s1600/3.jpg"][/img] [img src="https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEjnppBKCF61OtZHYjRk8xYQ1ojBxxnFs7drwzFPRKWM4RKNEe0QeTj5HqttZ0zSpn-wzO6ByJCrcc4KmqOwcm4zw3GaI3CBDYTL3pNZGRPHYVeqULl_PDmA1gDS67UEZO1EQTgSf2-YCSw/s1600/1.jpg"][/img] [/pgallery]


Trời thêm nắng liền phanh hàng nút áo
Ngực gió lùa cứ ngỡ giữa trùng khơi
Rú thêm ga cho thiên hạ khiếp chơi
Luồn qua ngõ khùng điên nơi phố thị
Suốt cuộc đời bị làm con chốt thí
Lỡ qua sông không còn chốn quay về
Cứ xoay ngang đi dọc mãi chán chê
Thân qua vạch không còn đâu chỗ trú
Đời chao nghiêng phận mình hèn cỏ cú
Mọc hoang đàng cho người dẫm chân lên
Hơn nửa đời lạc loài như lũ thú
Về thị thành thấy đất cứ chênh vênh
Trưa nhiều nắng chói mặt trời cháy rực
Chờ cơn mưa cho mát tấm thân này
Thèm trần truồng nốc ly rượu cho say
Đợi bão tới bốc lên cùng mây xám
Trang lịch sử toàn những tờ u ám
Làm kẻ điên ngu dại thế mà hay
Hết đường về đành buông thõng hai tay
Nước đã nát còn chi mà đứng đợi
Trưa choáng váng chợt thấy mình chới với
Tin vào đâu để sống tiếp tháng ngày
Thôi cũng đành làm như kẻ ăn may
Sống một bữa lại ghi thêm một bữa
Rồi có lúc như căn nhà khoá cửa
Bụi thời gian che lấp nẻo trở về
Thân rỗng toác héo cành khô rã mục
Chờ lửa hồng thiêu đốt hết cơn mê
29.8.2018
DODUYNGOC


Gia đình tui di cư vào Nam năm 1954. Ở Quảng Trị một thời gian ngắn, sau đó Ba tui vào làm Bệnh viện trung ương Huế, cũng chỉ một thời gian ngắn, năm 1956, cả gia đình vào Đà Nẵng vì Ba tui lại nhận công việc mới ở Tổng y viện Duy Tân, một bệnh viện quân y lớn nhất miền Trung thời bấy giờ. Vào Đà Nẵng, gia đình tui ở khu ngã tư chợ Cồn mấy chục năm, do vậy trong trí nhớ của tui, khu vực này là nơi tui nhớ nhất, đó là nơi tôi sống từ tuổi thiếu nhi cho đến tuổi trưởng thành rồi bay đi xa không về lại.
Chợ Cồn được hình thành từ những năm 40 của thế kỷ trước. Đầu tiên được dựng lên từ trên một cồn cát, nên chết tên luôn là chợ Cồn. Thập niên 40, Ba tui vừa học ra trường có đi làm việc một thời gian ở Đà Nẵng, hồi đó còn có tên là Tourane. Theo lời kể của Ba tui, lúc ấy nhà cửa còn thưa thớt lắm, chung quanh chợ chỉ có lau sậy, xương rồng và dương liễu vì gốc gác của nó là cồn cát biển. Lại có mấy lạch nước. Các gian hàng tạm bợ bằng chòi tre, mái tranh đơn giản. Lần hồi người ta xây dựng bằng các vật liệu kiên cố hơn. Khi gia đình tui đến ở khu này, chợ Cồn đã là một khu chợ sầm uất nhất Đà Nẵng, buôn bán đủ thứ trên đời.
Trước đó, người Pháp đã xây dựng đường sá và phố phường cũng được quy hoạch xây dựng đàng hoàng và mang nét văn minh phố thị. Chợ nằm trên trục đường quan trọng của Đà Nẵng. Đường này chạy từ bờ sông Hàn đến gần khu Bàu Thạc
Gián. Thời Pháp tên là đường Rue de la Republique (nay là đường Hùng Vương). Nó nằm ngay giao lộ của đường Sabiella (nay là đường Ông Ích Khiêm). Nối đường Ông Ích Khiêm là đường Khải Định. Đường này hồi trước chạy dài cho đến biển Thanh Bình. Những con đường đó tạo nên giao lộ là ngã tư chợ Cồn một thời khét tiếng. Sau lưng chợ có một đường rầy, đường này chạy qua một cái hầm nhỏ dưới Cầu Vồng. Từ dưới chợ muốn lên cầu Vồng phải leo một con dốc đất đỏ là lên đường Thống Nhất. Đứng trên Cầu Vồng ngay địa điểm đó, ta có thể nhìn thấy sân vận động Chi Lăng. Trên con đường này tui có một kỷ niệm. Thời mới lớn tui làm thơ, cũng có lần được giải của tỉnh. Trên đường đến trường đi học năm đệ tam, đệ nhị tui thường theo đuôi một cô cùng trường có nhà trên đường Thống Nhất. Theo thế thôi, chẳng nói gì và về nhà làm biết bao nhiêu là thơ. Sau đó, tui có in tập thơ Khung tình vỡ, toàn là thơ tình chưa nói được. Tui học nhảy, cuối nâm đệ nhị ở trường tui đã có bằng Tú tài hai phổ thông. Trước khi bay vào Sài Gòn thi đại học, tui gởi theo đường bưu điện cho cô ấy chục tập thơ rồi biến mất. Ôi cái thuở yêu em thơ dại.
Phía dối diện chợ, bên kia đường là Trung tâm cải huấn, nơi nhốt những người hoạt động Việt Cộng bị bắt, cũng là nơi giam giữ tù thường phạm cướp của, giết người. Gần đó có kho đạn và phía sau kho đạn là trại gia binh dành cho gia đình quân đội. Cạnh đó có nhà sách Ngày mới, và một trụ xăng nhỏ, nhưng tiệm sách này buôn bán ế ẩm không bằng nhà sách Văn Hoá nằm ở đầu đường. Ngày đó đây là một trong những nhà sách lớn nhất Đà Nẵng. Tui thường mua sách ở đây. Chủ nhà sách người Huế, trắng trẻo, nhìn rất thư sinh, có đứa con trai cũng trạc tuổi tui, cũng tên Ngọc đi tắm biển bị sóng cuốn trôi ở biển Mỹ Khê. Gần nhà sách Văn Hoá là một Pharmacie khá lớn của một gia đình người Quảng Nam. Con chủ nhà thuốc này cũng là người bạn của tui mà mấy chục năm rồi không gặp nên quên mất tên, anh này có nước da đen ngược lại với cô em gái trắng nõn. Ở khu đó bên kia chợ có một tiệm bán nước mắm có cô con gái học Bồ Đề. Cô gái dong dỏng cao, tóc để bom bê trước trán với chiếc áo dài trắng ngắn tà đã có một thời làm tui mê đắm. Sau này mới biết cô ấy là em gái của một người bạn tui. Cả gia đình giờ định cư bên Mỹ, cô ấy giờ chắc cũng đã là bà nội, bà ngoại rồi.
Từ những năm cuối của thập niên 50, Chợ Cồn đã được xây dựng kiên cố với những ngôi nhà lồng rộng và thoáng mát. Chung quanh chợ người ta đã xây những ki ốt cho thuê bán đủ mặt hàng cao cấp nên chợ Cồn được khang trang và lịch sự. Ngay ngã tư phía bên kia góc dường Ông Ích Khiêm và Hùng Vương có một cây xăng lớn. Đi tơi chút nữa là đụng đường rầy. Chỗ đó lộn xộn mấy nhà nhỏ lụp xụp vá xe, làm vỏ xe, những người thợ lúc nào cũng đen nhẻm. Phía bên kia là một dãy phố có căn nhà tui không bao giờ quên. Đó là xưởng vẽ của người hoạ sĩ già Nguyễn Viết Hậu. Ông này chuyên vẽ chân dung truyền thần nhưng lại vẽ Phật rất đẹp, nhất là vẽ Phật Thích Ca đản sinh, bước trên những toà sen với câu nói:" Thiên thượng thiên hạ, duy ngã độc tôn". Hồi còn bé trên đường đi học, bữa nào tui cũng chắp tay sau đít đưng ngó ông ấy và những người đệ tử vẽ vời. Tui mê hội hoạ cũng từ xưởng vẽ của ông và tui theo nghiệp vẽ cũng từ những nhát cọ của ông.
Xây xong cây xăng, người ta cũng xây một bến xe ngay góc Hùng Vương, xế xế với chợ Cồn. Bến xe có tên bến xe Chợ Cồn. Xe đò là xe đi hai chiều từ Đà Nẵng ra Quảng Nam, Huế cùng các tỉnh miền Trung khác và cả Tây Nguyên. Từ khi có bến xe, khu vực này nhộn nhạo hẳn lên, hàng quán mọc đầy phục vụ cho hành khách. Nổi bật ngay góc bến xe là bánh mì Ông Tý, chỉ là xe bánh mì chả nhưng khách đông vì chả có vị lạ. Mạ tui thích ăn bánh mì Ông Tý, nhiều khi khuya rồi cũng phải chạy ra mua cho Mạ. Gần đó có bún bò bà Hưng. Bà này người Huế có chồng là thợ may âu phục. Bà có mấy cô con gái ngang tầm tuổi tui, sau này có hai chị em lấy hai thằng bạn tui, cả đôi bây giờ định cư ở Houston. Bún của bà Hưng ngon đúng điệu bún Huế, dù chỉ là quán bình dân. Khu này hồi đó mấy ông Việt Cộng hay rải truyền đơn dù thật ra cũng chẳng có tác dụng gì. Khu này cỏn có tiệm bò Thái Ngư, bánh kẹo Quánh Hưng… cùng hàng chục cửa hiệu tạp hoá, đại lý trái cây, dụng cụ cơ khí, gạo buôn bán sầm uất, là đại lý của nhiều hãng lớn và là nơi cung cấp hàng sỉ đi khắp nơi ở miền Trung. Tui có anh bạn cùng trường nổi tiếng dân chơi nhà là một tiệm buôn lớn góc phố này. Anh tên Lâm Thành mất cũng khá lâu rồi.
Gần đó, ngay đầu đường Ông Ích Khiêm là cư xá Đoàn Kết, dành cho hạ sĩ quan quân đội VNCH. Khu này trước đó người ta chỉ dùng để ở, nhà nào cũng có khoảng sân trống sát đường. Phía sau là một sân cát rộng. Chiều chiều tụi nhỏ tuổi như tui thường đến đó thả diều và đá banh. Đến những năm cuối của thập niên 60 bỗng dưng người ta tận dụng sân trước để mở hàng quán. Một loạt quán bò tái ra đời. Khu gia binh mất dấu đề trở thành phố chợ. Mà cũng lạ, cả dãy quán ăn, quán nhậu lại có một căn là tiệm vẽ của ông hoạ sĩ Hải Triều. Ông này cũng chuyên vẽ chân dung, có thể thời đó có nhu cầu vẽ truyền thần. Hình như ông này trước đó ở trong quân đội, có nhờ Ba tui giúp cho giải ngũ nên có vẻ rất quý Ba tui. Thấy hay tặng quà và vé xem hát. Dãy nhà sau cũng lấn chiếm sân chơi, tui tui mất chỗ để thả diều và đá bóng. Thật ra, lúc đó tụi tui cũng đã đến tuổi thanh niên, chẳng còn mê diều và trái bóng mà đã bắt đầu biết chải đẩu và diện áo quần đẹp để đi tán gái rồi.
Từ chỗ cư xá đi xuôi xuống đường Ông Ích Khiêm, ta gặp bên ka đường một château d'eau cao lừng lững. Tháp nước này cung cấp nước thuỷ cục cho cả khu vực. Đối diện tháp nước là Bình dân thư quán, là nơi cho thuê truyện của một ông Tàu già. Tiệm nhỏ thôi, nhưng sách nào cũng có. Nhất là truyện kiếm hiệp. Thời này, người ta mê truyện chưởng của Kim Dung nên quán lúc nào cũng đông khách. Ông chủ người Tàu có trí nhớ siêu phàm. Sách của ông luôn bọc ngoài bìa là giấy bao ciment. Sau tờ bìa là ông ghi ký hiệu ngày mượn chi chít. Thế mà khi nói tựa sách là ông lấy ngay đúng phóc, không chút chần chừ. Cuốn nào đã có người thuê chưa trả ông cũng báo ngay. Hay thật. Tui là tín đồ của quán này, ngày nào cũng thuê đôi ba cuốn, đủ loại, đọc muốn lòi con mắt.
Nhắc đến Chợ Cồn ngày xưa mà không nói đến cà phê Xướng là diều thiếu sót. Ít ra là đối với bản thân tui. Cà phê Xướng là một ki ốt nằm trước chợ Cồn, trên đường Khải Định xưa. Tiệm bán cà phê và các thức uống. Khách của tiệm là giới công chức, giáo sư, doanh nghiệp, quân nhân. Đó không phải là tiệm dành cho giới bình dân. Có một thời, sáng nào tui cũng phải ra đấy mua cà phê sáng cho Ba tui uống trước khi đi làm. Lúc nào cũng mang theo một cái chén lớn để đổ nước sôi vào đấy cho cà phê đến nhà vẫn nóng. Quán trang trí như mấy quán cà phê nhỏ bên Tây. Có quầy với mấy ghế cao và những cái bàn nhỏ trải những khăn bàn kẻ ca rô. Có hai điều mà tui không bao giờ quên được tiệm cà phê này đó là mùi cà phê rang thơm phưng phức, mỗi tách cà phê lại bỏ thêm chút bơ Bretel beo béo thơm thơm. Điều nữa mà gần hết đời, tui vẫn thấy không có chỗ nào có bánh mì thịt ngon như ở cà phê Xướng. Thịt là thịt ba chỉ, có mỡ được rim vàng với ngũ vị hương và có thể có chút hồi. Bước vào quán là nghe mùi này ngay. Mùi thịt hơi cháy vàng tươm mỡ, nước thịt màu hổ phách sậm thơm nức mũi. Ổ bánh mì dòn tan, được dồn thịt và rưới nước vàng óng đó lên, rắc thêm ít tiêu sọ xay, chẳng cần xì dầu, hành ngò mà ối chao ôi là ngon! Sau này, lớn lên, già đi cũng nhiều lần rim thịt thế, cũng bánh mì dòn thế, miếng ăn sao lại thấy chẳng ngon như xưa nữa.
Bây giờ, lúc đã đi bốn phương trời, trở về chốn cũ. Đứng giữa ngã tư chợ Cồn với biết bao kỷ niệm nhưng tui lại thấy xa lạ biết chừng nào? Chẳng còn ai quen, những con phố lạ, đường xưa không dấu vết cũ. Tui làm người khách lạ tiếc nhớ những chốn xưa và ký ức của mình. Thời gian nhanh quá! Mới tuổi thanh niên giờ đã là ông lão. Những bạn bè, người thân lần lượt ra đi. Cảnh cũ chẳng còn dấu tích. Nghĩ đến chuyện bể dâu. Buồn ơi là buồn!
28.8.2018
DODUYNGOC

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget