Latest Post














ĐĂNG BÀI VIẾT CỦA MỘT NGƯỜI SINH RA VÀ LỚN LÊN Ở MIỀN BẮC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, CÓ ÔNG VÀ CHA LÀ CÁN BỘ QUÂN ĐỘI MIỀN BẮC. ĐÂY LÀ MỘT CÁI NHÌN KHÁ KHÁCH QUAN VÀ TRUNG THỰC, HI VỌNG CÁC DLV KHÔNG NHẢY VÀO CHỬI BỚI VÔ VĂN HOÁ Ở ĐÂY.

BÀI VIẾT KHÔNG BIẾT ĐẶT NHAN ĐỀ LÀ GÌ.

Thảo Dân.

Những ngày cuối tháng Tư năm 1975, lớp lớp đoàn quân giải phóng ào ạt tiến về Saigon trong niềm vui còn sống tới ngày thống nhất, trong niềm hạnh phúc vô biên vì lý tưởng chiến đấu họ đã hoàn thành. “Ta đi trong muốn ánh sao vàng, rừng cờ tung bay rộn ràng bao mê say những bước chân dồn về đây. Sài Gòn ơi! Vững tin đã bao năm rồi một ngày vui giải phóng” (Đất nước trọn niềm vui- Hoàng Hà).
Đoàn quân giải phóng đã thắng 2 tên thực dân đế quốc lớn nhất thời đại, chỉ vừa bước chân về tới Saigon, sau men say chiến thắng là bộc lộ những hạn chế, những lạc hậu, đồng thời choáng ngợp về một thế giới sang giàu phồn vinh thật chứ không phải “giả tạo”. Những người lính Bắc Việt trẻ măng hớn hở rạng rỡ lần đầu được ngồi lên chiếc xe gắn máy, hoặc sự ngạc nhiên tột độ khi ngồi xuống một gian hàng bán đủ thứ mặt hàng vô cùng phong phú dọc hè phố Saigon, một phóng viên chiến trường phe cách mạng hào hứng, cầm chiếc máy ảnh được sản xuất từ phương Tây và tò mò bấm thử, một anh cán bộ đầu đội mũ cối, chân đi dép râu, mặc bộ quân phục ka ki Nam Định xanh lá rộng thùng thình phải thắt tới nút cuối cùng của chiếc xanh tuya, hãnh diện đeo chiếc kính mát đen sì và chiếc đồng hồ mới thửa trên cổ tay gầy rộc, vai đeo một chiếc radio mua vội. Rất nhiều tấm hình lưu trữ khoảnh khắc lịch sử này có thể dễ dàng tìm trên mạng.
Họ mau chóng thể hiện những hồn nhiên đến ấu trĩ, những ngơ ngác đến tội nghiệp, lâm vào bao tình huống dở khóc dở cười, trở thành nhân vật trong những câu chuyện hài hước mỉa mai của quân dân cán chính miền Nam. Vô số hài thoại qua những tập ngữ mới lạ, trở thành “ký hiệu” thể hiện sự coi thường, khinh bỉ đi sâu vào trí não người miền Nam. Trên sách báo và câu chuyện đời thường của người miền Nam từng sống thời hậu chiến, nó vẫn được, bị nhắc lại một cách đầy thành kiến, mà hậu sinh nếu không được giải thích thì sẽ không hiểu người ta nói gì.
-Cái nồi ngồi trên cái cốc => Chỉ ly cà phê phin (một vật dụng có từ thời Pháp ở cả 3 miền Nam, Trung và Bắc kỳ chứ không hề xa lạ).
-Cái lọc cà phê => Chiếc áo ngực của phụ nữ miền Nam.
-Đồng hồ không người lái 12 cửa sổ (đồng hồ Seiko thời đó chạy tự động, không lên giây như đồng hồ của Nga, ở mỗi vị trí ghi giờ, thay vì các con số thì đính một viên nhựa khối vuông giả hột xoàn, óng ánh như cửa sổ sáng đèn).
-Tivi, tủ lạnh chạy đầy đường.
-Kem ăn không hết phải đem phơi.
Món hàng khi đó bộ đội yêu thích, hay mua để đem ra Bắc được gói vào 3 từ “Đạp- Đồng- Đài” (Xe đạp- đồng hồ- radio).

Mỗi lần đọc thấy một hài thoại như vậy, tôi có buồn không?
Có. Rất buồn. Và xót xa.
Vì trong đoàn quân Bắc Việt đó, có ông ngoại tôi, một giảng viên chính trị của Học viện Quân sự, sau này đóng ở Đà Lạt, người đã từ chối những ưu đãi dành cho cán bộ Việt cộng lấy từ tài sản của quân dân chế độ Saigon, tới khi về hưu vẫn ăn cơm tập thể nằm giường cá nhân. Món quà tôi nhớ nhất mỗi lần ông về phép là chiếc mũ nhựa có thể gấp lại cho trong túi đi học, ngoài ra, không có gì cả. Tất cả những gì mà gia đình có được, là do sự đảm đang, tháo vát và cả sự nghiệt ngã với con cái của bà ngoại tôi mà có. (Cần lưu ý, nếu các bạn trẻ tìm hiểu về Học viện quân sự Đà Lạt trên Wikipedia, rất dễ nhầm tưởng rằng Học viện này là của chế độ cọng sản lập ra, vì người viết không rõ là do kiến tức kém hay cố ý nhập nhèm, nhưng trên thực tế, nó được tiếp quản từ chế độ VNCH, nơi này vốn là trường võ bị Quốc gia Đà Lạt, một cơ sở cao cấp đào tạo sĩ quan của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, tồn tại 25 năm, từ 1950- 1975, nơi xuất thân của rất nhiều tướng lĩnh tài ba). Ông ngoại cũng chính là người khi nói nói tới gia đình họ Ngô bao giờ cũng bằng một thái độ kính trọng, gọi là Cụ Diệm. Những ngày ông về hưu (ông đã cùng các cậu tôi rời quê sau khi cụ tôi mất), tôi may mắn được sống gần ông, được lục lọi tủ sách lúc nào mở ra cũng sực nức mùi băng phiến. Sách nước ngoài hầu như toàn văn học Xô viết, nhà văn Việt Nam ông yêu thích là Hữu Mai. Ông cho tôi đọc cả những cuốn sách phát hành rồi bị thu hồi như: Nhãn đầu mùa (tôi đã quên tác giả), Ly Thân (Trần Mạnh Hảo), Những Thiên Đường Mù (Dương Thu Hương), khác hẳn với ông bố giáo điều và cả tin của tôi, luôn kiểm soát tất cả những gì tôi đọc và nghĩ, nên Truyện Kiều cũng thuộc vào danh mục sách cấm, tới mức tôi phải láu cá lột bìa cuốn Bất Khuất của Nguyễn Đức Thuận để bọc vào tất cả mọi quyển, mỗi khi bố tôi lảng vảng tới gần, tôi chỉ cần giả vờ lơ đãng gấp sách lại, để hiện lên cái bìa sách Bất Khuất to đùng tôi tỉ mẩn tô vẽ là che mắt được mắt bố. Bố tôi cả tin đến nỗi mỗi khi tôi bướng bỉnh, lại mắng, Mày đọc Bất Khuất cho lắm vào.
Trong đoàn quân đó có bố tôi, một anh bộ đội Trường Sơn suốt từ 1964 đến năm 1976 mới xuất ngũ. Tài sản mang về là mấy bộ kim châm cứu (kỷ vật của cô người yêu cũ ở chiến trường) và bệnh sốt rét kinh niên. Để chữa khỏi bệnh cho bố, gia sản nghèo nàn của nhà tôi sạch bách. Mẹ tôi phải bán đi cả chiếc kiềng bạc của em tôi, bán đi chiếc nón lá Hà Đông được tặng, chưa dám đội lần nào và vô vàn sáng trưa chiều tối lọ mọ đạp xe, đi bộ khắp hang cùng ngõ hẻm của huyện để tìm thuốc và về hì hụi ninh, sắc cho bố uống.
Có chú họ tôi, mà mỗi lần nhắc chú, mẹ tôi đều kể lại câu chuyện đêm trước chú đi B, được về nhà, đã ra ngó từng gốc cây trong vườn, đã chạy khắp các đường làng rồi chạy vào bế tôi, đứa cháu nội đầu tiên của chi (một nhánh trong nội tộc), khi đó mới vài tháng tuổi rồi lại hối hả chạy bộ lên chỗ tập trung. Câu nói của chú tới giờ mẹ tôi vẫn nhắc, Em nhớ nhà, nhớ làng, nhớ cháu lắm chị ơi, nhớ từ nồi nước giải giở đi. (Quê tôi hồi đó thường để một cái nồi đất to ở góc vườn, đi giải vào đó để pha ra tưới rau).
Có một đồng hương của tôi, sau khi giải ngũ về làng, lúc nào cũng ngẩn ngẩn ngơ ngơ, xa lánh mọi người, ai nói gì cũng chỉ khe khẽ cười nhạt, đêm đêm trùm chăn nghe đài BBC, người vợ trẻ đang tuổi khao khát hạnh phúc lứa đôi cặp bồ với hết người này người khác, ông cũng chỉ khe khẽ cười đau khổ. Hễ ai bất bình hộ mà bâng quơ nhắc nhở xa gần, thì ông thở dài, Cả làng, cả nước này bị lừa chứ nói gì một người đàn bà. Kệ người ta.

Bởi thế, tôi trân trọng và thương xót người lính Bắc Việt bằng một cảm xúc máu thịt chân thành. Đằng sau cái ngô nghê ấu trĩ đó, là sự thật đói nghèo của miền Bắc lúc bấy giờ. Những tiện nghi quá đỗi bình thường với dân miền Nam như quẹt gaz, máy casesstte, quạt máy, đồ chơi điện tử…tới những vật dụng của gia đình trung lưu như máy hát đĩa, ti vi, tủ lạnh, xe máy, ô tô…là một thế giới trong mơ, không có thực ở miền Bắc. Sự hợm hĩnh dốt nát của họ là để che đậy mặc cảm tự ti của kẻ chiến thắng biết mình chiến bại, bại vì thua sút đối thủ cả vật chất lẫn tinh thần. Những người có học hành, hiểu biết thì sớm giật mình, bàng hoàng nhận ra mình đã nhầm. Thế nên mới có một Dương Thu Hương ngồi sụp xuống khóc nức nở giữa đường phố Saigon, để bắt đầu giai đoạn nhận thức phản tỉnh triệt để. Có một người lính trong bài thơ Phan Huy: “Tôi còn nhớ sau cái ngày “thống nhất”/ Tôi đã vào một xứ sở thần tiên/ Nếp sống văn minh, dân khí dịu hiền/ Cơm áo no lành con người hạnh phúc…Trước mắt tôi một miền Nam sinh động/ Đất nước con người dân chủ tự do/ Tôi đã khóc ròng, đứng giữa thủ đô…”.
Câu hỏi đặt ra, Nếu bất kỳ ai trong số dân miền Nam mà sống trong lòng miền Bắc, được giáo dục như bao thế hệ người miền Bắc từ 1954 trở về sau này, liệu có khá hơn, hoặc khác hơn họ không? Tôi không dám chắc.

Nói về đói khổ ở miền Bắc những năm tháng đó, thì có lẽ chỉ cần lấy 2 ví dụ. Người phụ nữ tới kỳ kinh nguyệt, nếu không dùng giẻ rách từ quần áo cũ để thấm máu, thì sẽ dùng tro bếp gói vào trong miếng vải cũng từ đồ cũ, đóng làm khố cho qua những ngày khổ sở. Lương thực cũng thiếu đến nỗi, để ghìm khẩu vị lại, có nơi, người dân phải hấp vào nồi cơm một loại lá đắng, đắng không thể ăn thêm bát thứ 2. Câu chuyện thứ nhất, bà tôi kể. câu chuyện thứ 2 từ hồi ức của Lê Minh Hà trong tập Những triền xưa ai đi. Cuộc sống bần hàn như vậy, dễ hiểu rằng, những tiện nghi tối thiểu mang dấu ấn hiện đại không xuất hiện ở xã hội miền Bắc, trong hầu hết gia đình. Ai rất giàu mới có chiếc đài Orionton, mà mấy bác hàng xóm nhà tôi đọc là Ô ri ông tông. Xe đạp thì phải gắn biển số. Đó gần như là những thứ vật chất giá trị nhất. Huống hồ những thứ “xa xỉ” mang tính tiểu tư sản như phin pha cà phê hay áo ngực, quần lót cho phụ nữ.
Về văn hóa giáo dục thì sao?

“ Nhìn qua phương Tây, bên ấy có xu hướng đặc tả lớp trẻ nhỏ và thanh thiếu niên là nạn nhân, những khổ đau mà các em phải nhận lãnh trong chính trị và xung đột quân sự là oan uổng vì trẻ thơ tượng trưng cho những gì thuần khiết và trong trắng. Thế nhưng những diễn ngôn bên phe xã hội chủ nghĩa thời Chiến tranh Lạnh thường biến hình ảnh thanh thiếu niên và thiếu nhi, cũng như nhi đồng “trở thành những chiến binh cách mạng gắn liền với lập trường chính trị của cuộc đấu tranh giai cấp ” (“Making Two Vietnams” by Olga Dror. ‘Việt Nam Nước Chia Hai Đàng’ trang 15 - Le Tung Chau dịch).
Nhận xét đó là xác đáng, với thiếu nhi của tất cả các nước XHCN nói chung và thiếu nhi Bắc Việt nói riêng. Ở đây, xin nhắc riêng về thiếu nhi và người dân Bắc Việt.

Trẻ em từ 6-9 tuổi nằm trong Đội Nhi đồng. Từ 9-15 tuổi trong Đội thiếu niên. Không phải đứa trẻ nào cũng dễ dàng được vào Đội Thiếu niên. Vì thế, bọn trẻ bằng mọi cách phải cố gắng hết sức của mình để được đeo khăn quàng đỏ, dấu hiệu nhận biết những cá nhân có tinh thần phấn đấu triệt để. Là một tổ chức nằm trong hệ thống chính trị nên Đội được giám sát bởi Đoàn Thanh niên (Ban đầu là Đoàn Thanh niên Lao Động, sau đổi thành Đoàn Thanh niên Cộng sản HCM), và Đoàn lại được sự kiểm soát, dẫn dắt sát sao của tổ chức đảng (Ban đầu cũng là đảng Lao động, sau đổi thành Đảng Cộng sản đúng với bản chất). Một người từ ấu thơ đến trưởng thành, một mặt bị giám sát bởi tầng tầng lớp lớp tổ chức, bị chính trị hóa, mặt khác lại phấn đấu trở thành thành viên của nó, coi đó là tiêu chí chứng minh mình ưu tú hơn thành phần còn lại. Đó là cả một hành trình gian khổ, khắc kỷ, loại bỏ tối đa những yếu tố cá nhân, để chỉ còn là một sản phẩm hoàn hảo của định hướng, nghĩ chung một dòng, nói chung một giọng. Cuộc đời trở thành những cuộc thi đua không có điểm dừng. Thi đua “Làng sạch đồng xanh”, thi đua làm “Kế hoạch nhỏ”, “Ngàn việc tốt”, thi đua chào mừng sinh nhật bác "Em yêu bác Hồ Chí Minh", sinh nhật đảng "Ngàn hoa việc tốt dâng Đảng quang vinh", thể hiện tình đoàn kết với miền Nam: "Em sẽ về thăm miền Nam Tổ quốc thành đồng yêu dấu", hoặc bày tỏ tình cảm với các lực lượng vũ trang: "Em yêu anh bộ đội". Bao quát tất cả là phong trào thi đua ‘Thực hiện 5 điều bác Hồ dạy”. Danh hiệu Cháu ngoan Bác Hồ là “chứng chỉ” sát hạch phẩm chất chính trị của các công dân tí hon. Và như thế, khái niệm ngoan, đồng nghĩa với sự vâng lời, tuân phục và sùng tín. Ở các lứa tuổi trưởng thành, vẫn là phong trào thi đua. Thanh niên “Ba sẵn sàng”, “Năm xung phong”, phụ nữ “Ba đảm đang”, “Giỏi việc nước đảm việc nhà”, Trí thức “Ba quyết tâm”, Quân đội “Ba Nhất” “Thi đua Quyết thắng”, Giáo dục “Hai tốt”, Nông nghiệp: “Gió Duyên Hải”, Tiểu thủ công nghiệp: “Gió Đại Phong”… Thi đua trở thành một thứ tiêu chí để đánh giá thứ hạng công dân, buộc họ phải vắt kiệt sức phấn đấu để thể hiện lòng trung thành và nhiệt tình cách mạng.

Chương trình giáo dục các môn xã hội gần như trùng khớp với quan điểm xuất bản văn hóa. Các ấn phẩm thơ ca nhạc họa dành cho thiếu nhi nói riêng và các tầng lớp nhân dân nói chung, cùng nhằm tới những mục tiêu: Giáo dục lòng yêu chế độ đồng nghĩa lòng yêu nước, lòng căm thù giặc Mỹ và tay sai, tinh thần đấu tranh giai cấp và cách mạng triệt để, lòng sùng bái lãnh tụ… Để đạt mục tiêu giáo dục, thậm chí, người ta không ngần ngại ngụy tạo những nhân vật anh hùng như Lê Văn Tám, Nguyễn Văn Bé, cô du kích Nguyễn Thị Kim Lai… Mọi công dân không có khái niệm bi quan nản lòng và mơ hồ dao động, hoặc ít nhất, không được tỏ ra như vậy, nếu không muốn gặp rắc rối, bị bêu riếu, xa lánh, kỳ thị, bị triệt đường học hành, làm ăn, sinh sống, bị dồn vào đường cùng. Trên thực tế, số người bi quan, dao động rất ít, thuộc về những người có học hành, hiểu biết hơn số đông còn lại.
Để đến với người đọc, tất cả sách báo đều được kiểm duyệt qua rất nhiều khâu từ bản thảo tới in ấn, xuất bản. Đường lối và phương châm giáo dục này hằn sâu trong trí não từ trẻ thơ tới khi trưởng thành, định hình nếp tư duy một chiều, định hướng, triệt tiêu phản biện, tin tưởng tuyệt đối vào những gì đã được giáo dục, dạy dỗ, tin vào số đông, bất kỳ ai sống khác, nghĩ khác là bị liệt vào thành phần bất hảo, cần phải giáo dục lại.

Từ đời sống thường nhật tới thông tin, văn hóa đều bị bưng bít. Đồng nghĩa với việc người miền Bắc nói chung và người lính Bắc Việt nói riêng, trở nên tức cười trong mắt những người anh em bên kia vĩ tuyến, những người nếu không phải đều được thụ hưởng cuộc sống văn minh Tây phương, cả về vật chất lẫn tinh thần, thì cũng không tới nỗi xa lạ với nó.

Người miền Bắc thành thực tin rằng đồng bào miền Nam đói khổ ngày đêm bị rên xiết dưới gót giày Mỹ ngụy, thành thực tin rằng, bằng máu xương của mình, sẽ giải phóng đồng bào, những người cùng dòng máu Lạc Hồng khỏi kẻ ngoại bang, sẽ xây dựng một đất nước Việt Nam thống nhất, độc lập tự do.

Vì thế, bao nhiêu lá đơn tình nguyện nhập ngũ viết bằng máu. Bao nhiêu chàng trai còi cọc chưa trổ ria mép đã thủ trong túi quần mấy kg gạch đá vào túi quần để đủ cân nặng ra chiến trường.
Vì thế, bao nhiêu cô gái buộc gọn mái tóc dài, xung phong tới nơi bom đạn, để lại những Rừng Cười con gái đầy ám ảnh, để ngày trở về, trễ muộn, nhan sắc tàn phai, chỉ tuổi tác là dày thêm mãi, tuổi già cô độc không chồng, không con, trên mình mang đủ loại tật bệnh. Bao nhiêu máu xương trải dọc Trường Sơn? Bao nhiêu trai gái độ tuổi yêu đương nằm xuống khi chưa từng có một nụ hôn, chưa từng cầm tay người khác giới?
Vì thế, giấy báo tử bay đầy mái rạ, mẹ vẫn tiễn chồng rồi tới con đi. Có ai mong làm Mẹ Việt Nam anh hùng.

Ngược lại, ở miền Nam, với không khí học thuật cởi mở, đề cao dân tộc tính, đề cao tinh thần dân tộc, giáo dục lòng tự hào về dòng dõi con Lạc cháu Hồng, tình yêu quê hương bản quán, thông qua những bài dạy luân lý nhẹ nhàng, kết hợp hài hòa các nội dung văn hóa dân tộc, văn minh Tây phương và luân lý Khổng Nho, không giáo dục lòng căm thù, không có thần tượng chính trị, được gia đình, nhà trường và xã hội bảo bọc, che chắn “dựng một chốn trú ngụ an toàn giữa hai lằn đạn” để sống hồn nhiên, phát huy tối đa những phẩm chất ưu tú, cống hiến cho Quốc gia và thành nhân, thành danh ở vào khi tuổi đời còn rất trẻ. Họ thành nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, thành sĩ quan, thành lính trận, thành những nhà quản trị quốc gia, đồng thời họ có thể lặn ngụp trong phong trào hippie với triết học hiện sinh thời thượng từ nước Mỹ xâm nhập để đi tìm bản ngã. Đó là nền văn hóa giáo dục Dân tộc- Nhân bản- Khai phóng. Bên cạnh khơi gợi lòng tự hào về bản thân, quê hương, dân tộc, họ còn được thực hành đức tính khiêm nhu, lễ độ. Điều đó càng khiến cho miền Nam nhìn người bộ đội từ rừng tràn xuống như những kẻ đói khổ, quê mùa, dốt nát và hợm hĩnh, và hố sâu ý thức hệ càng lúc càng sâu rộng mãi thêm ra khi “cách mạng” tiếp quản miền Nam, và giam cầm quân dân cán chính VNCH trong những trại cải tạo...

So sánh về văn hóa- giáo dục giữa hai miền như thế, để lý giải phần nào nguyên nhân sự hồn nhiên, ngô nghê và cả tâm thế phức hợp, đan xen giữa thái độ ngạo mạn của bên thắng cuộc lẫn mặc cảm thua kém về văn hóa và vật chất trước kẻ chiến bại.

Tôi không dám hi vọng thế hệ từng đổ máu trong chiến tranh, những người bị ly tán gia đình, mất thân nhân sau 1975, những người phải rời bỏ quê hương xứ sở để tìm đường sống có thể quên đi thù hận. Tôi không dám hi vọng lớp người đi trước có cái nhìn thay đổi về đối phương, cho dù, tôi chứng kiến một số tình bạn đẹp khác chiến tuyến. Nhưng, tôi ao ước rằng, thế hệ tôi, thế hệ con cháu tôi hãy hiểu và nhìn nhau bằng cái nhìn nhân ái. Cả từ hai phía. Dù là con em bên này hay bên kia, thì cùng sống trên dải đất này, từ khi thống nhất, chúng ta đều cùng chung một nền giáo dục, chung một vòm trời. Chúng ta, vô tình hay hữu ý, vẫn được giáo dục để nuôi nấng lòng căm thù. Nhưng lòng căm thù có giúp quốc thái dân an không? Không. Có thay đổi được xã hội không? Không. Lịch sử không thể nào thay đổi, nhưng tương lai có thể thay đổi. Chỉ có thể viết một chương mới bằng tấm lòng nhân văn, nhân ái, nếu không, sẽ mãi là “Một nỗi buồn mênh mông sâu thẳm cho phận dân mệnh nước mình”, như lời một người bạn tôi.

(Bài viết có tham khảo tư liệu trong cuốn “Making Two Vietnams” by Olga Dror. Việt Nam Nước Chia Hai Đàng - Le Tung Chau dịch).
Hình chôm từ Internet


Đúng là bây giờ ra đường ớn chè đậu quá. Nhiều người ủ bệnh, người đã phát hiện bệnh vẫn vô tư trốn cách ly, vô tư đi ăn, đi chơi, tiếp xúc bao người. Con virus nhỏ hơn hạt bụi, lửng lơ, lượn lờ không ai thấy. Biết đâu mà tránh. Hên xui. Xã hội lắm kẻ thiếu ý thức, lắm người ích kỷ chỉ biết cho mình mà quên mất những người chung quanh. Họ gieo rắc tai hoạ cho biết bao người. Thôi thì sáng ráng ăn miếng khoai lang hay cái bánh ngọt, trưa nấu gói mì chờ tối con về nấu cho miếng cơm ăn. Chấm dứt lang thang lê la hàng quán, chấm dứt tà tà đi dưới mấy hàng cây mà ngẫm nghĩ sự đời, chấm dứt lượn lờ nhà sách kiếm ba con chữ, chấm dứt qua mấy cây cầu đứng ngó mây bay, chấm dứt những bữa lùng sục mấy món đồ ưa thích đem về chất đầy nhà, chấm dứt buổi sáng ngồi ăn điểm tâm với món ưa thích mở đầu cho một ngày vui, chấm dứt gặp bạn, chấm dứt kết bè, thôi đành vậy.

Giờ như con cá ươn sình, suốt ngày đi lên đi xuống, đi ra đi vào. Hết nghe nhạc lại xem phim. Hết đọc sách lại vọc ipad. Già rồi, đọc nhiều lại lồi con mắt. Xong lại nằm ườn ra mỏi cả người. Nằm ngửa, nằm nghiêng, nằm sấp, xương cốt mềm nhũn ra. Leo lên xe tập đạp được vài chục vòng lại mỏi. Phẩy tay vài trăm cái cũng không hết giờ. Ra balcon nhìn xuống, đường cũng vắng người đi. Cho hơn chục chiếc xe nổ máy, sân toàn mùi xăng khó ngửi, tưới mấy chậu hoa, mấy giò lan ướt sũng. Chọc mấy con chó sủa, nhìn mấy con cá lội trong hồ, lên giây mấy cái đồng hồ đau cả tay, cũng chẳng thấy hết bao nhiêu thời gian. Buồn miệng thì đốt thuốc, thuốc lá có hại cho sức khoẻ kkk. Suốt một ngày không biết nói chuyện với ai, chẳng lẽ độc thoại như người điên. Đúng là rồi chẳng biết làm chi cho hết một ngày. Thèm một bát phở nóng buổi sáng, thèm được xách va li làm một chuyến đi, thèm được đưa máy lên chụp cỏ cây, hoa lá, biển trời, thèm được ngồi tụm năm tụm ba nói cười sảng khoái, thèm được bắt tay nhau, mồi cối thuốc nhìn khói bay trong quán vắng với tiếng nhạc nhè nhẹ, thèm rú ga chạy dưới gió trên những con phố Sài Gòn...Thèm đủ thứ mà một ngày bình thường thấy chỉ là chuyện bình thường. Nhiều người bảo nhân dịp này nên sống chậm lại. He..he tui sống chậm mấy năm rồi, cần chi phải tập sống chậm. Nợ mấy chục cái bìa sách, nợ người mấy bức tranh mà không làm được. Đúng là có thời gian rảnh rỗi nhưng lòng bất an thì cũng chẳng hứng thú để làm được việc gì. Con virus bé tí tì ti mà làm cuộc sống đảo lộn cả. Cả thế giới lộn tùng phèo chứ có phải mình ta đâu!
27.3.2020
DODUYNGOC




Cuối tuần lại không đi đâu được, nằm nhà nghe dĩa nhạc của ca sĩ Thái Thanh. Dĩa này được thực hiện năm 1985, khi Bà vừa mới định cư ở Mỹ và đã hơn 50 tuổi. Hoà âm, phối khí khác hơn thời trước 1975. Vẫn là chất giọng của Thái Thanh của thời cũ, không thay đổi.


Sau khi tôi viết bài: "THÁI THANH: TIẾNG HÁT KHÔNG NGƯỜI THAY THẾ." có người hỏi tôi sao không đi sâu vào phân tích giọng ca Thái Thanh để thế hệ sau 1975 hiểu thêm tiếng hát này. Xin thú thật đây là một bài viết theo đặt hàng của một tờ báo, do vậy không thể viết dài vì khuôn khổ cố định của một bài.

Bây giờ viết tiếp đây, có thể nói rất ngắn gọn thế này:

Từ trước đến nay, trong hàng ngũ ca sĩ Việt Nam, Thái Thanh là một trong rất ít ca sĩ hát tròn vành rõ chữ và chuẩn tiếng Việt nhất. Hãy nghe Bà cất tiếng đi, chúng ta sẽ nghe được một giọng chuẩn Việt, chữ nào ra chữ nấy, một giọng Việt rất đẹp. Bây giờ sân khấu Việt lắm ca sĩ nhưng nhiều người hát như người ngoại quốc nói tiếng Việt, kẻ thì gào rú như ma gào quỷ khóc, người thì sướt mướt uốn éo như kẻ biến thái...

Thứ nữa là nghệ thuật luyến láy của Bà, gần với lối luyến láy của Quan họ, Chầu Văn, Chèo của âm nhạc dân gian Bắc Bộ, cũng là tinh hoa, vốn quý của âm nhạc Việt Nam. Hãy nghe thử bài Kỷ vật cho em, chữ "hỏi" trong bài hát đã được Bà diễn tả biết bao tâm trạng, đau xót, dằn vặt, yêu thương, trách móc...chỉ cần giọng hát của bà nói lên hết chỉ trong một từ.

Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời, xin trả lời mai mốt anh về.
Anh trở lại có thể bằng chiến thắng Pleime,
Hay Đức Cơ, Đồng Xoài, Bình Giã,
Anh trở về anh trở về hàng cây nghiêng ngả
Anh trở về, có khi là hòm gỗ cài hoa,
Anh trở về trên chiếc băng ca
Trên trực thăng sơn màu tang trắng.

Em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại
Xin trả lời xin trả lời mai mốt anh về.
Anh trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho buồn liệm kín hồn anh
Anh trở về bờ tóc em xanh
Chít khăn sô lên đầu vội vã.. Em ơi!

Đã có biết bao người hát bài Tình ca của Phạm Duy, thế nhưng khi Bà cất lên tiếng hát:

"Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi!
Mẹ hiền ru những câu xa vời.
À à ơi! Tiếng ru muôn đời.

Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui .
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi!
Tiếng nước tôi! Tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi.
Thoắt ngàn năm thành tiếng lòng tôi, nước ơi!"

Lòng ta nghe xao xuyến, xúc cảm và thấy tự hào, yêu thương về đất nước, về tiếng nói của mình. Đó chính là sức mạnh của âm nhạc, của văn học nghệ thuật. Giọng ca của Bà đã truyền sức sống thêm cho một dân tộc đã phải trải qua nhiều đau khổ, chia ly, tan tác vì chiến tranh.

Khi Bà hát Ngày xưa Hoàng thị, sao nghe mà tình tứ, mà ngọt ngào đến thế! Ở bài này, luyến láy của Bà rất điệu đà, nữ tính dù bài hát nói về một anh chàng si tình đi theo gót chân người đẹp.

Rồi Nửa hồn thương đau, Trả lại em yêu... Bà nức nở, khổ đau bằng giọng hát của mình truyền qua người nghe và thính giả nức nở cùng Bà.

Đến Bà mẹ Gio Linh:
"Mẹ già cuốc đất trồng khoai
Nuôi con đánh giặc đêm ngày
Cho dù áo rách sờn vai
Cơm ăn bát vơi bát đầy
Hò ơi ơi ới hò! Hò ơi ơi ới hò!
Nhà thì nó đốt còn đây
Khuyên nhau báo thù phen này
Mẹ mừng con giết nhiều Tây
Ra công sới vun cầy cấy
Hò ơi ơi ới hò! Hò ơi ơi ới hò!
Con vui ra đi, sớm tối vác súng về
Mẹ già một con yêu nước có kém chi
Đêm nghe xa xa có tiếng súng lắng về
Mẹ nguyện cầu cho con sống rất say mê.
Mẹ già tưới nước trồng rau
Nghe tin xóm làng kêu gào
Quân thù đã bắt được con
Đem ra giữa chợ cắt đầu
Hò ơi ơi ới hò! Hò ơi ơi ới hò!
Nghẹn ngào không nói một câu
Mang khăn gói đi lấy đầu
Đường về thôn xóm buồn teo
Xa xa tiếng chuông chùa gieo
Hò ơi ơi ới hò! Hò ơi ơi ới hò!
Tay nâng nâng lên, rưng rức nước mắt đầy
Mẹ nhìn đầu con, tóc trắng phất phơ bay
Ta yêu con ta, môi thắm bết máu cờ
Nụ cười hồn nhiên, đôi mắt ngó trông ta.

Có lẽ không ai diễn tả tâm trạng của bà mẹ "Mang khăn đi lấy đầu" đau xót như giọng ca của Bà. Một bà mẹ mang khăn đi lấy đầu của đứa con trai mình bị giặc chặt đầu phơi thây, môi thắm máu cờ. Nỗi đau của bà mẹ trong đoạn này được ca sĩ Thái Thanh bộc lộ hết tâm trạng nhân vật gây nhiều cảm xúc.

Một bài hát nữa, cũng theo tôi không ai hát hay, diễn tả được như bà là bài Quan Thế Âm, tôi cũng không hiểu sao bài này rất ít người biết dù lời ca tiếng nhạc và ý nghĩa của bài này rất sâu xa, lắng đọng và rất xúc động. Hình ảnh trong bài cũng quá là đẹp và sâu sắc mang tính triết lý Phật giáo:

"Có bà mẹ đi tìm con trên đỉnh đồi lan trắng
Có bà mẹ đi tìm con trong động hang lan vàng
Có bà mẹ đi tìm con bên bờ sông Lam tím
Có bà mẹ đi tìm con trong thung lũng cỏ hoang.
Trên đỉnh mùa Xuân, mẹ ta thương cả rừng hoa lá
Trong mùa Hạ, bên bờ lau, Mẹ yêu tiếng ve rầu rầu
Thu về nằm trong bụi cây, nhớ mây trời xanh ngát
Nuôi một đàn chim mồ côi, khi Đông tuyết lạnh rơi.

Bốn mùa hoa đua nở, bốn mùa Mẹ lang thang
Tìm con, lòa đôi mắt, gọi con, lời đã khan
Khóc con, lệ đã cạn, thương con, lòng vắng hoang
Nhớ con, sầu đã ngất, đợi con, hồn đã tan.
Tay Mẹ đang quờ quạng, như một cành khô khan
Nhớ con tìm khắp chốn, rời rã cả thời gian
Khi còn là thiếu phụ, thơm như nhành ngọc lan
Đến nay, già tóc trắng, tìm con đà mấy trăng.

Thế rồi, một hôm Mẹ chết, hơi Mẹ trong trời chưa hết
Ôm cả trần gian đầy vơi, nhân loại đeo tang người
Tim Mẹ thành ra trùng dương, máu Mẹ thành sông thành nước
Ôi đời trầm luân, Mẹ thương, chiếu ánh sáng từ quang.
Bây giờ Mẹ đã thành mơ, hơi Mẹ hoá thành hơi gió
Bốn mùa ngồi nghe mọi nơi, tiếng Mẹ ru bồi hồi
Xưa là Mẹ đi tìm con, tiếng Mẹ ru buồn khắp chốn
Bây giờ hiện thân Mẹ chung, tiếng Mẹ hát ru dịu dàng
Tiếng Mẹ hát ru dịu dàng
Tiếng Mẹ hát ru dịu dàng."

Ca sĩ Thái Thanh khi diễn tả bài này, giọng ca thanh thoát, nhẹ nhàng, đau đớn nhưng không khốn khổ. Nghe như nhạc Thiền, bao nhiêu sân hận như tạm bay đi.

Kết lại, như tôi đã viết, đó là giọng ca khó ai thay thế được. Ca sĩ Ánh Tuyết sau này cũng là giọng ca hay, âm vực cao cũng thường hát những bài Thái Thanh từng đã hát nhưng giọng không đẹp bằng, phát âm cũng chưa rõ bằng và đặc biệt cũng không diễn tả được cái hồn bài hát như giọng ca vượt thời gian Thái Thanh. Dù đã lâu rồi, ca sĩ Thái Thanh vì tuổi già bệnh tật nên không còn cất tiếng hát nữa, nhưng sự ra đi của bà để lại bao nhiêu tiếc nuối. Giọng ca Thái Thanh với những bài ca Bà đã hát là những kỷ niệm khó mà quên được của nhiều thế hệ sinh ra và lớn lên ở miền Nam Việt Nam trước 1975. Những kỷ niệm của một thời.
20.3.2020
DODUYNGOC









Vĩnh biệt tiếng hát vượt thời gian Thái Thanh. Bà vừa qua đời vào lúc 11h50 ngày 17/03/2020 tại Orange County, Nam california Hoa Kỳ, hưởng thọ 86 tuổi.
Giọng hát của bà cũng là kỷ niệm của nhiều người yêu nhạc miền Nam Việt Nam. Bà mang đến cho mọi người giọng hát đẹp, giúp cho nhiều người thấy cái đẹp của âm nhạc.

Ca sĩ Thái Thanh tên thật là Phạm Thị Băng Thanh sinh năm 1934 tại làng Bạch Mai, Hà Nội trong một gia đình có truyền thống văn nghệ. Cha của bà là Phạm Đình Phụng, có 2 vợ, vợ trước sinh ra Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm, vợ sau sinh ra Phạm Thị Quang Thái (Thái Hằng), Phạm Đình Chương và con út là Phạm Thị Băng Thanh.
Năm 1946, Băng Thanh tản cư cùng gia đình vào Chợ Đại, Thanh Hóa vùng kháng chiến nơi bà bắt đầu hát lúc 14 tuổi. Cũng năm này Thái Hằng cưới nhạc sĩ Phạm Duy. Năm 1951 thì gia đình Phạm Duy về Hà Nội rồi chuyển vào Sài Gòn sống, Thái Thanh cũng đi theo.
Năm 1956, Thái Thanh kết hôn với tài tử Lê Quỳnh tại Sài Gòn.
Năm 1965 bà ly dị Lê Quỳnh sau khi đã có chung với nhau ba con gái và hai con trai. Bà ở lại Việt Nam cho đến năm 1985 thì sang Hoa Kỳ định cư.

Trước năm 1975, người miền Nam hầu như ai cũng biết đến giọng ca của Bà. Bà có một giọng hát đặc biệt, chỉ cần cất giọng thì ai cũng nhận ra. Bà sở hữu một giọng hát cũng như lối hát lạ lùng, mang tính chất opera nhưng chịu nhiều ảnh hưởng của Chầu văn, quan họ, chèo là những bộ môn nghệ thuật được bà tự rèn luyện, học tập từ thuở nhỏ tại quê hương miền Bắc. Giọng hát của Bà thích hợp với các loại nhạc đa dạng của nhạc sĩ Phạm Duy. Bên cạnh đó, bà cũng là ca sĩ hát thành công rất nhiều ca khúc tiền chiến. Người ta khó quên được giọng hát độc đáo của Bà với những bài Tình Ca, Bà mẹ Gio Linh, Ngày xưa Hoàng thị, Nghìn trùng xa cách, Trả lại em yêu, Buồn tàn thu, Hòn vọng phu, Nửa hồn thương đau, Bài Hương ca vô tận....và những bài trường ca của nhạc sĩ Phạm Duy như Mẹ Việt Nam, Con đường cái quan, cho đến những bài Đạo ca, những bài ca phổ từ thơ Phạm Thiên Thư của nhạc sĩ này. Bà cũng hát rất hay bài nhạc nước ngoài Dòng sông xanh. Bài này còn có tên Dòng Danube xanh (tên đầy đủ là Bên dòng sông Danube xanh và đẹp, tiếng Đức là An der schönen blauen Donau) là bản waltz cực kỳ nổi tiếng của ông vua nhạc waltz Johann Strauss II. Ở Việt Nam, không có giọng ca nào thể hiện bài này xuất sắc như ca sĩ Thái Thanh, nhất là ở những đoạn cao trào và luyến láy. Bà được xem như là "Đệ Nhất danh ca"của dòng nhạc tiền chiến cũng như nhạc tình miền Nam giai đoạn 1954 – 1975.

Giọng ca của Bà được người thưởng ngoạn và giới phê bình đánh giá cao.
Georges Étienne Gauthier một nhà phê bình nghệ thuật Pháp đã viết:
"Thái Thanh đã thấu hiểu bằng trực giác cái ý nghĩa sâu xa của nghệ thuật Phạm Duy, do đó các khúc điệu uyển chuyển và cao nhã của Phạm Duy đã hoàn toàn tự nhiên trở thành thứ môi trường lý tưởng cho giọng hát cũng uyển chuyển và cũng cao nhã của bà"

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn nói trường hợp của Thái Thanh là một "trường hợp hãn hữu", và "Máu lửa, chiến tranh, bom đạn, chia cắt, người sống, người chết, nước mắt, mồ hôi, thấm nhập vào âm nhạc của chúng ta như thế nào, đều được phản ánh qua tiếng hát Thái Thanh."

Nhạc sĩ Phạm Duy phát biểu là : "Giọng hát Thái thanh, một giọng hát diễm tuyệt: tất cả hạnh phúc và khổ đau của kiếp người bị đày đọa trong chiến tranh và hòa bình, trong vinh quang và khổ nhục, trong hy vọng và tuyệt vọng qua những bản nhạc khóc, cười, nổi, trôi theo mệnh nước."

Ca sĩ Lệ Thu thì cho rằng: "Chúng tôi không là những giọng hát vượt thời gian được, nếu nói vượt thời gian chỉ duy nhất dành cho danh ca Thái Thanh mà thôi"

Còn ca si Khánh Ly: "Tôi luôn xem bà là ngọn hải đăng của mình"

Ngay một người tu hành như Thiền sư Nhất Hạnh cũng nhận định: "Tôi thấy được hết những hạch tuyến nơi cổ họng, những tế bào, những bộ phận lớn nhỏ đã phụ họa với nhau để phát ra những âm thanh trong, ấm, thanh tao và diệu kỳ kia. Tôi chưa gặp Thái Thanh lần nào cả, Steve ạ. Hãy nghĩ rằng cô trẻ, đẹp và đằm thắm như giọng hát của cô, và chỉ giữ lại từng đó thôi. Nếu ta nghiêng mình lệch đi một tý, bình diện với thời gian thay đổi, thì cô Thái Thanh đã ở bên kia tự bao giờ rồi, ví dụ năm ngàn năm về trước hoặc năm ngàn năm về sau."

Nhà văn Mai Thảo, từ những năm 70 của thế kỷ trước đã viết:" Tốt tươi và phơi phới, bay bổng và cao vút, tiếng hát Thái Thanh hai mươi năm nay là một hơi thở bình minh, ở đó không có một dấu vết nhỏ của tháng năm và quá khứ đè nặng. Đã là một giòng sông đầy, nó vẫn còn là cái thánh thót, cái trong vắt của một giòng suối, nước reo thủy tinh, sỏi lăn trắng muốt. Như một bông hoa không nở và tàn trong một buổi sáng, mà hoa đã mãn khai, vẻ hàm tiếu vẫn còn. Tiếng hát trẻ trung vĩnh viễn, không tuổi, không quá khứ là vì nó tạo mãi được cho người nghe cái cảm giác mát tươi đầu mùa như vậy. Cái não nùng, cái thê thiết rũ rượi là những cái làm già. Thái Thanh không hát cái chết bao giờ, trong cả những ca khúc nói về cái chết. Tiếng hát không bao giờ là một tiếng khóc, nó là đời sống, tiếng cười, và mặt trời. Những cái đen, những cái tối, gì là vũng lầy, gì là vực thẳm, ở ngoài tiếng hát Thái Thanh. Ở ngoài. Không đột nhập"

Ca sĩ Thái Thanh đã từ giã chốn trần gian đầy lận đận để về một thế giới khác. Thế nhưng, tiếng hát của Bà vẫn còn mãi với những người yêu nhạc Việt. Bà không những có giọng hát độc đáo và kỳ lạ làm xốn xang người nghe, tiếng hát của bà với những bài ca tình tự quê hương khiến cho ta thấy yêu đất nước, quê hương mình hơn. Những ca từ của bài hát qua giọng hát của Bà giúp cho người nghe thấy gắn bó với Tổ quốc, với tiếng Việt mến yêu. Vĩnh biệt Bà nhưng người ta sẽ còn nhớ mãi tên Bà một thời gian dài nữa vì cho đến bây giờ tiếng hát của ca sĩ Thái Thanh vẫn chưa ai thay thế được.
18.3.2020
DODUYNGOC

Tình ca - Phạm Duy
https://youtu.be/l2jnfRr_Kv0

Ngày xưa Hoàng thị - Phạm Duy
https://youtu.be/vG4qBpCXPdQ

Nghìn trùng xa cách
https://youtu.be/ohUnZj5cllw

Bà mẹ Gio Linh
https://youtu.be/KRClV9HYYL4

Hòn Vọng phu
https://youtu.be/vYGgVCp8gEw

Trả lại em yêu
https://youtu.be/3don8Ph-_Vc

Nửa hồn thương đau
https://youtu.be/XVf-LTHBmTk

Quan Thế Âm
https://youtu.be/Ikwy4hUlWj0



THÁI THANH – NGƯỜI MÀ AI CŨNG MẮC NỢ
Đỗ Tiến Đức
(Trích)
(…)
Người nữ ca sĩ từng được vinh tặng là tiếng hát vượt thời gian và không gian này hiện sống trong một căn phòng của một chung cư dành cho người cao niên.
Căn phòng vừa đủ kê một chiếc giường ngủ, một bàn ăn nhỏ, và nơi tiếp khách cũng chỉ có chỗ cho hai ba người. Chị đã thiết trí căn phòng thật đơn sơ với bộ máy hát nhỏ, bình hoa, những tấm hình kỷ niệm, trên tường là những tranh và tượng Phật, giấy của chùa cấp chứng nhận chị đã qui y. Tôi nhìn tấm thân chị, nay đã còm cõi kiểu mình hạc vóc mai, mái tóc đã bạc phơ, chợt nghe chị nói : "Mình tạo cho căn phòng này thành một nơi chốn để thiền, để nghỉ ngơi, để tu Phật...".

Chị nói: “Thứ bẩy nào các cháu cũng tới chở tôi về nhà hoặc đưa tôi đi chơi nơi này nơi nọ. Còn chủ nhật thì tôi đi chơi với các bạn của tôi...". Tôi để ý thấy chị nói mà vẫn như hát, giọng của chị vẫn trong, vẫn khoẻ, vẫn đầy âm thanh như ngày nào. Dáng của chị khi nói, khi cười, đều mang nét quen thuộc của người anh ruột là Nhạc sĩ Phạm Đình Chương.

Tôi hỏi: Hoài Bắc nổi tiếng với bản nhạc Đôi Mắt Người Sơn Tây phổ thơ của Quang Dũng, vậy gia đình chị có biết Sơn Tây không?
Thái Thanh: Sơn Tây là quê ngoại thôi. Quê nội ở làng Bạch Mai Hà Nội.
- Chị có bao giờ sống ở Sơn Tây không?
- Chỉ có vài dịp nghỉ hè thì về chơi thôi.

Tôi tò mò hỏi tiếp:
- Chị có ba chị em là chị Thái Hằng, anh Hoài Bắc và chị. Cả ba đều nổi tiếng về âm nhạc. Vậy ông cụ hay bà cụ hay cả hai đã "di truyền" dòng máu văn nghệ này?
Thái Thanh: Vâng ba người mà anh vừa nói là cùng mẹ ruột. Ông cụ tôi còn bà trưởng, tức là mẹ trên của chúng tôi, thì có anh Phạm Đình Sỹ và anh Hoài Trung.

Khi bà trên mất rồi thì ông bố tôi mới cưới mẹ tôi. Như thế không thể gọi là bà hai được. Nói đúng ra thì cả bố tôi và mẹ tôi đều chơi đàn cổ như đàn tranh, đàn bầu, nhị, sáo... Cụ ông chơi những thứ đàn đó còn cụ bà thì chơi tỳ bà. Mẹ tôi giỏi về nhạc lắm. Tôi nhớ ngày xưa tôi có được nghe cụ hát ả đào thật tuyệt.
Hát ả đào ngày xưa khác với thời bây giờ nhiều. Thời xưa nó là một thú chơi rất văn học nghệ thuật. Các bạn của bố tôi mỗi khi làm được những bài thơ hay là tới đưa cho cụ hát, rồi mọi người ngồi thưởng thức...

Nguyễn Đắc Điều hỏi: Chị đi hát trong hoàn cảnh nào?
Thái Thanh: Tôi hát trong cái hoàn cảnh anh Phạm Đình Chương chơi đàn với bạn của anh ấy là ông Nguyễn Cao Kỳ. Hồi nhỏ ở Hà Nội, ông Kỳ thường hay đến nhà tôi đánh đàn. Hai ông ấy là bạn học với nhau, chơi thân nhau lắm. Rồi tới một ngày không biết nổi hứng sao đó, anh Chương lôi tôi ra dạy cho tôi hát và hai ông ấy đệm đàn. Lúc đó tôi còn bé lắm, đâu chừng mới mười tuổi.

Nguyễn Đắc Điều: Ai đặt cho chị là Thái Thanh?
Thái Thanh : Tôi nhớ tên của tôi do các cụ đặt cho là Phạm Thị Băng Thanh. Còn chữ Thái là hình như lấy từ tên chị tôi. Chị là Thái Hằng thì em phải là Thái Thanh chứ.
Nguyễn Đắc Điều: Tại sao anh Phạm Đình Chương lại lấy tên là Hoài Bắc?
Thái Thanh: À, hình như lúc ấy chúng tôi ở Sài Gòn rồi, chúng tôi lập ban văn nghệ đi trình diễn nên các anh lấy tên là Hoài Bắc, Hoài Trung, ý nói là nhớ miền Bắc, nhớ miền Trung thôi.
Tôi hỏi xen vào: Hình như trước khi vào Sài gòn, chị có trình diễn văn nghệ cùng với Phạm Duy ở những vùng thuộc quyền Việt Minh kiểm soát?

Thái Thanh: Có. Tôi đi hát là cũng do các anh ấy lôi đi. Bây giờ tôi già rồi, không còn nhớ nhiều. Anh đọc hồi ký của Phạm Duy là thấy đó. Hồi đó đến giờ, Phạm Duy vừa làm việc vừa ghi chép lại nên chuyện anh ấy viết là đúng đấy.

Hỏi: Nhưng sự kiện quan trọng này thì chắc chị còn nhớ, là lần đầu chị lên sân khấu, chị bao nhiêu tuổi ?
Thái Thanh: Độ 12 tuổi.

Hỏi: 12 tuổi đã hát trước công chúng, thế chị có run sợ không?
Thái Thanh: Cái lần đầu tôi lên sân khấu không phải tôi lên một mình mà lên hát chung với các anh các chị tôi. Chúng tôi trình bầy một bản đồng ca. Như thế tôi cũng bớt sợ phần nào. Chứ nếu mà mình lên sân khấu một mình, lúc mình nhỏ bé như thế chắc là mình sợ lắm chứ nhỉ. Điều tôi còn nhớ rõ, khá rõ là cái xúc cảm khi hát, anh ạ. Có lẽ là "gene" âm nhạc của mẹ tôi trong người nên tôi lúc đó tuy còn nhỏ xíu nhưng tôi đã biết xúc động từ lời ca cho tới dòng nhạc. Cái cảm xúc đó nó còn trong tôi cho tới bây giờ đấy. Khi đứng trước khán giả hát, mà quí vị thấy tôi hát hay, đó là vì tâm hồn tôi nhập vào bài hát rồi. Tôi yêu âm nhạc. Tôi yêu âm nhạc ghê gớm lắm.

Hỏi: Lần đầu chị hát là hát ở đâu?
Thái Thanh: Ngoài vùng kháng chiến.
Hỏi: Hát ngoài trời?
Thái Thanh: Vâng. Hát ở ngoài trời. Sân khấu được dựng lên để hát cho dân làng nghe ấy mà.
Nguyễn Đắc Điều: Tôi có một người bạn quê ở Thái Bình bây giờ còn nhớ là hồi đó ban văn nghệ của chị có về hát quê của anh ấy.
Thái Thanh: Thế hả... Bây giờ tôi không còn nhớ nữa.
Nguyễn Đắc Điều: Năm nào thì chị bỏ vùng Việt Minh về Hà Nội?
Thái Thanh: Tôi không nhớ rõ. Nhưng chúng tôi chỉ ở Hà Nội một thời gian ngắn rồi vào Sài gòn.
Nguyễn Đắc Điều: Có phải vì sợ Việt Minh trả thù nên các anh chị phải bỏ Hà Nội vào Sài gòn?
Thái Thanh: Tôi không biết vì lúc đó còn nhỏ quá, với lại lâu quá rồi. Tôi chỉ nhớ là lúc ấy vào Sài gòn là để hát cho đài phát thanh Pháp Á. Đài này mời ông Phạm Duy. Ông ấy sáng tác bản Về Miền Trung, hát trên đài Pháp Á, được thính giả thích quá. Ông ấy vào rồi kéo tụi này đi luôn.

Nguyễn Đắc Điều: Ban Thăng Long ra đời vào lúc này?
Thái Thanh: Đúng rồi. Vì sống ở Sài gòn nên nhớ Hà Nội, tức Thăng Long ấy mà.
Nguyễn Đắc Điều: Bản nhạc mà chị hát đầu tiên trên đài Pháp Á tên là gì?
Thái Thanh: Có lẽ là bài Về Miền Trung đấy.
Tôi hỏi: Chị sống ở Sài gòn từ thuở thanh xuân như thế thì chị gặp anh Lê Quỳnh ở đâu?
Thái Thanh: Chúng tôi gặp nhau ở Sài Gòn. Tôi gặp bố các cháu vào lúc ông ấy đi đóng cuốn phim "Chúng Tôi Muốn Sống". Lúc đó tôi đã là ca sĩ khá nổi tiếng rồi. Khi mà ông ấy cho người tới mai mối thì gia đình tôi mới trả lời tôi rằng, ông ấy là tài tử xi nê nổi tiếng, còn con thì hát nổi tiếng, bố mẹ cho con lấy đấy.
Tôi hỏi tiếp: Chị còn nhớ những kỷ niệm thuở ban đầu với anh Lê Quỳnh không?

Thái Thanh: Tôi nhớ đã gặp bố các cháu lần đầu vào dịp trình diễn văn nghệ vào dịp tết ở những rạp trước giờ chiếu phim. Gọi là phụ diễn nhưng có khí kéo cả giờ đấy. Anh Lê Quỳnh ở trong ban văn nghệ. Ông ấy hát hay lắm. Hát hay lắm. Chỉ có điều là ông ấy không đi hát thôi. Ông ấy lại đóng phim giỏi. Ông ấy đóng kịch thì tuyệt vời. Đó là trời sinh ra ông ấy để ông ấy đứng trên sân khấu chứ không phải ở dưới này đâu. Thì trong một buổi diễn chung như vậy, chúng tôi gặp nhau. Và chúng tôi mê nhau.

Hỏi: Chị nói là "chúng tôi mê nhau", như vậy thì ai tỏ tình trước?
Thái Thanh: Việt Nam mình thì cứ coi là đàn ông tỏ tình trước đi. Đàn bà có muốn lắm cũng để trong lòng thôi.
Hỏi: Bao lâu sao thì anh chị thành hôn?
Thái Thanh: Có lẽ vài năm. Sau đám hỏi mới tới đám cưới...
Hỏi: Khi lấy chồng là một tài tử điện ảnh, chị có ý nghĩ muốn trở thành diễn viên điện ảnh không ?
Thái Thanh: Sao cái điều đó tôi lại chưa bao giờ nghĩ đến đấy. Mà anh Lê Quỳnh cũng không bao giờ hỏi là tôi có muốn đóng phim không nữa.

Tôi (Đỗ Tiến Đức) với anh Lê Quỳnh là bạn từ khi tôi về trông coi Nha Điện Ảnh ở đường Thi Sách Sài gòn. Lê Quỳnh là đại úy quân đội được biệt phái sang đây vì anh đã nổi tiếng trong giới điện ảnh từ khi anh đóng cuốn phim Chúng Tôi Muốn Sống. Trong buổi tiếp xúc đầu tiên với anh, tôi hỏi anh đang phụ trách công việc gì thi anh buồn bã trả lời, anh được cử trông coi Nhân Dân Tự Vệ trong cơ quan. Không ai mời anh đóng phim, dù là phim tuyên truyền. Anh nói với tôi, anh ao ước được trở thành đạo diễn điện ảnh. Tôi hứa sẽ cho anh cơ hội để thử thách nếu anh kiếm được một truyện phim nào đặc sắc. Lê Quỳnh tỏ vẻ rất vui mừng. Vài tuần sau, anh trình tôi bản truyện phim "Giã Từ Bóng Tối". Đọc xong, tôi cấp cho Lê Quỳnh sự vụ lệnh lên Đà Lạt, ở tại Hotel Palace hai tuần lễ để viết phân cảnh kỹ thuật. Đây là cuốn phim 35 ly trắng đen dài một tiếng rưỡi đồng hồ, do Nha Điện Ảnh sản xuất và phát hành.

Vào năm 1968, khi xẩy ra biến cố Tết Mậu Thân, Lê Quỳnh đã được ông Nguyễn Văn Liêm, chủ hãng Liêm Film mời đạo diễn cuốn phim màu, ngắn độ dưới nửa giờ, tên là "Hậu Quả Của Sự Thành Công". Phim do nữ tài tử Xuân Dung đóng vai chánh, quay tại Sài gòn lúc vừa im tiếng súng nhưng những cảnh đổ nát, chết chóc vẫn còn nguyên. Cuốn phim này được gửi sang Đài Loan in rửa, nhưng không hiểu vì lẽ gì sau này không thấy chiếu. Tôi có hỏi Lê Quỳnh điều này nhưng Lê Quỳnh cũng không biết. Còn ông Nguyễn Văn Liêm đã chết ở Sài gòn ít năm sau 1975.

Tôi nghe tiếng Nguyễn Đắc Điều hỏi Thái Thanh:
- Chị và anh Quỳnh ở với nhau bao nhiêu năm?
Thái Thanh: Mười mấy năm. Hình như lúc Ý Lan được 8 tuổi thì chúng tôi thôi nhau.
Hỏi: Anh chị được mấy cháu tất cả ?
Thái Thanh: 5. Gần như năm một. Có khi ba năm hai. Ý Lan là con đầu. Tới Lê Xuân Việt, con trai. Rồi Lê Thị Quỳnh Giao tức là Quỳnh Hương, vì trùng tên với ca sĩ Quỳnh Dao nên đi hát cháu lấy tên là Quỳnh Hương. Thứ tư là Lê Thị Thanh Loan. Út là cháu Lê Đại.

Nguyễn Đắc Điều: Chị đã sống một đời với nghiệp cầm ca, không làm nghề gì khác, vậy thì cuộc sống của chị có khá không?

Thái Thanh: Về vật chất ấy à? Anh hỏi cái ấy đúng đấy. Khi mà mình được người thưởng thức yêu mến mình thì đương nhiên là mình phải kiếm được nhiều tiền rồi. Nhưng mà, tôi có năm con nhỏ phải nuôi vì anh Lê Quỳnh đã có vợ có con phải nuôi, nên số tiền anh Lê Quỳnh gửi cho tôi để phụ nuôi các cháu cũng hạn chế thôi. Anh Lê Quỳnh có với Thái Thanh năm cháu, với cô Trúc bốn cháu, tổng cộng là chín.

Nguyễn Đắc Điều: Những ca sĩ, kịch sĩ thường ngại mang bầu vì trở ngại cho việc trình diễn. Sao chị lại đông con vậy?
Thái Thanh nở nụ cười duyên dáng, ánh mắt ngước lên rồi nhìn vào mấy tấm hình của chị treo trên tường, trong đó có tấm hình bán thân của chị thời còn thật trẻ, một tấm hình người mẹ quây quần với năm đứa con, mà tôi không thể nhận ra người mẹ đó là Thái Thanh. Giọng nói của chị như gió thoảng:
- Thời xưa, chả là người mình ai cũng thích sinh nhiều con. Nhiều con là phúc là đức mà. Cho nên các ông bà nội, ông bà ngoại đều khuyến khích mình để các cụ có nhiều cháu bồng bế... Mình vừa thích có nhiều con, vừa chìu các cụ, thế là mình đẻ liên tiếp thôi. Mỗi lần mang bầu, mình phải sinh con đàng hoàng rồi mới lên sân khấu trở lại.

Tôi hỏi Thái Thanh: "Chị có để người làm bế con tới hậu trường khi chị đi hát không?" thì Thái Thanh lắc đầu ngay:
- Không. Mình nuôi con cẩn thận lắm. Mình không cho người làm cho các cháu uống thuốc bao giờ đâu. Có những đêm đi hát, một hai giờ sáng mới về tới nhà, người mình đã mệt lắm rồi, buồn ngủ đến mắt mở không ra nữa, thế nhưng mà mình phải vào phòng các cháu xem các cháu ngủ ra làm sao. Đứa nào đau thì mình lấy thuốc, dỗ cho con uống, rồi ôm con, rồi hun hít, nựng nó, bù đắp tình thương cho nó, với lại mình cũng thèm khát hơi hướm của các con lúc phải xa chúng nó chứ. Có lần, đang ngồi chờ trình diễn, mình nhớ con đang đau ở nhà, thế là nước mắt mình tuôn ra. Các bạn hỏi thăm, mình nói là tại các ông hút thuốc nhiều quá, khói làm cay mắt...

Nguyễn Đắc Điều: Chị với Lê Quỳnh là một cặp vợ chồng nghệ sĩ xứng đôi vừa lứa quá, vậy mà nguyên nhân vào khiến phải chia tay nhau?
Thái Thanh: Tôi cho là cái cuộc sống của một cặp vợ chồng nói chung là nó có vui có buồn, có cái nọ có cái kia, có cái hạp có cái không hạp. Người ta vẫn sống với nhau vì là có con với nhau. Các cụ ngày xưa dạy dỗ con cháu là có con thì không được bỏ nhau nữa đấy nhé. Thế nhưng, đến một lúc nào... Tôi là người đạo Phật nên tôi hiểu được một điều là cái duyên nợ một khi đã hết thì dù vẫn còn thương yêu nhau, vẫn biết xa nhau là các con nó khổ, thế nhưng mà ông Trời đã sinh ra con người chỉ có duyên, có nợ nhau bấy nhiêu thôi là hết. Khi mà cái duyên cái nợ đã hết thì tự nhiên cái không hạp nhiều hơn cái hạp. Điều mà tôi rất mừng để nói với các anh là khi chúng tôi không còn ở với nhau nữa, nhưng cả hai vẫn chăm nom con cái cho đến khi anh Lê Quỳnh có cô Trúc và có con.

Nguyễn Đắc Điều: Chị có giao thiệp với vợ chồng anh Lê Quỳnh chứ?

Thái Thanh: Vâng. Chúng tôi gặp gỡ nhau thường chứ. Chúng tôi rất thân nhau. Cô Trúc và anh Quỳnh khi các cháu còn nhỏ vẫn mang gửi tôi trông nom hộ đấy. Gọi là gửi "Me già". "Me già cho tụi tôi đi xi nê vài tiếng rồi tụi tôi quay lại lãnh cháu về".

Nguyễn Đắc Điều: Vậy thì chị Trúc dễ thương quá.

Thái Thanh: Rất là dễ thương. Trúc trước làm chiêu đãi viên hàng không Việt Nam nên bặt thiệp, khôn khéo lắm. Mấy năm gần đây bố các cháu bị bệnh, may có cô ấy chăm sóc thay thế chúng tôi. Có lần anh Lê Quỳnh nói với tôi là "Mẹ có biết người nào trên thế gian này mê tiếng hát của Mẹ nhất không?". Tôi trả lời: "Mẹ biết là có nhiều khán giả mê mẹ hát lắm, nhưng đâu biết ai mê nhất ai mê nhì". Thì Lê Quỳnh nói với giọng hãnh diện: "Cô Trúc mê mẹ nhất". Sau này chính cô Trúc cũng nói là mê tiếng hát Thái Thanh từ hồi còn nhỏ. Cô ấy kém tôi khá nhiều tuổi. Cho đến giờ, hễ cô ấy có món gì ngon là cũng đem cho tôi. Cái đó tôi thấy là phải là người hiểu biết, phải là người có lòng lắm mới làm được, nhỉ?

Không khí trong căn phòng buổi sáng chủ nhật thật im lặng. Tôi nhìn Thái Thanh, mái tóc bạc, thân thể còm cõi, quần áo giản dị, trong một khung cảnh giản dị. Thật không thể ngờ có ngày tôi được nhìn một nữ nghệ sĩ lớn khi họ chưa trang điểm xong và chưa ra khỏi nhà. Trước đây, mỗi lần đi quay phim ở xa Sài gòn, các nữ nghệ sĩ tên tuổi thường đòi có phòng riêng, hoặc thuê khách sạn chứ không ở chung với đoàn. Các cô sẽ không gặp ai, dù là đạo diễn, khi mà mặt không còn phấn, môi không còn son, mắt không còn những nét chì màu và lông nheo giả.

Tiếng anh Nguyễn Đắc Điều hỏi tiếp chị Thái Thanh: Sau khi chính thức ly dị với anh Lê Quỳnh rồi, cuộc sống tình cảm của chị ra sao?

Thái Thanh: Khi mà tôi với anh Lê Quỳnh chia tay thì tôi còn trẻ lắm. Như thế các anh hiểu là có nhiều người đàn ông theo đuổi tôi...

Nguyễn Đắc Điều: Vậy chị chấm ai?

Thái Thanh: Đôi ba người... Gọi là bạn... Bạn trai... Nhà ai nấy ở mà. Đi chơi với nhau thì có chứ lấy làm chồng thì không.

- Tôi có nghe dư luận về chị và nhà văn Mai Thảo.

- Vâng. Tôi với anh Mai Thảo thân lắm.

- Hai người có liên hệ tình cảm gì không?

Thái Thanh: Có liên hệ tình cảm. Nhưng khi mà tôi còn ở với chồng... và dù bỏ chồng rồi thì... anh Mai Thảo anh ấy rất quý tôi đến cái độ tôi muốn thế nào anh ấy chiều như thế. Nhưng mà tôi, tôi cổ lỗ sĩ lắm, các ông ạ. Hễ không có cưới là không có ăn ở với nhau. Cho nên tôi và anh Mai Thảo không có ăn ở với nhau.

- Cuốn tiểu thuyết Mười Đêm Ngà Ngọc của Mai Thảo, có phải anh ấy muốn nói về chị?

Thái Thanh: Tôi không biết, hay là anh ấy viết...

Hỏi: Chị có đọc cuốn sách ấy không?

Thái Thanh: Tôi là người đọc sách đọc báo nhiều nhưng giờ tôi không nhớ cuốn sách ấy câu chuyện nó như thế nào...

Hỏi: Chị nghĩ thế nào về anh Mai Thảo?

Thái Thanh: Vâng, tôi quý lắm. Tôi có cái đặc biệt là, ở với chồng, rồi không ở với chồng, tôi rất quý chồng. Chơi với bạn, như với anh Mai Thảo và vài người bạn dù sau này không chơi nữa, cũng vẫn quý nhau. Có lẽ những người đáng quý tôi đều được gặp.

Tôi chuyển đề tài để ra khỏi những ngày tháng mà chị muốn giữ riêng cho chị. Tôi hỏi chị sau khi đất nước hết chiến tranh, chị có đi hát không thì chị trả lời rất nhanh: "Không. Chắc chắn là không".

Hỏi: Chị có buôn bán làm ăn gì để kiếm sống không?
Thái Thanh: Anh hỏi về "Kinh tế" đó hả? Thì tôi đã có trời thương. Ngày xưa, đi hát có tiền, mình hay sắm xoàn đeo. Nên tháng này hết tiền ăn thì mình "ra" một cái nhẫn. Mà cứ mỗi lần "ra" một cái nhẫn mình cứ tưởng rằng ăn được lâu lắm mới phải bán cái nhẫn khác. Sự thực không phải như thế đâu... Rất là nhanh. Lại phải bán cái nhẫn nữa... Rồi thì các đồ dùng trong nhà như ti vi. Cứ bán đồ mà ăn cho đến lúc cháu trai đầu lòng là Lê Xuân Việt, di tản với bố hồi 1975, cháu đi làm lấy tiền gửi về cho mẹ.

Tôi chợt nghe tiếng Nguyễn Đắc Điều say mê hỏi chuyện Thái Thanh: "Thưa chị, Phạm Duy có ảnh hưởng như thế nào với tiếng hát của chị?". Ánh mắt Thái Thanh như bừng sáng lên, giọng chị reo vui những âm thanh như tiếng của những hòn bi rơi trên sân gạch bát tràng thời thơ ấu: "Có những lần anh Phạm Duy mới sáng tác được hai ba câu của một bài ca đã gọi tôi: "Em, em Thanh, hát thử cho anh nghe cái câu này". Thế thì có nghĩa là bài của ông Phạm Duy chưa xong, Thái Thanh đã hát rồi.

Nguyễn Đắc Điều: Như vậy là...

Thái Thanh: Vâng tôi hiểu ý các anh. Tôi không nghĩ là anh Phạm Duy sửa đổi nhạc của anh ấy vì tiếng hát của tôi đâu. Tôi chỉ nghĩ là có nhạc Phạm Duy thì có tiếng hát Thái Thanh như thế này và có tiếng hát Thái Thanh như thế này thì nhạc Phạm Duy mới...

Nguyễn Đắc Điều đỡ lời:... mới bay lên cao hơn.

Tôi hỏi: Chị có nhớ ai là người đặt ra câu "Tiếng hát Thái Thanh vượt thời gian"?

Thái Thanh: Một nhà sản xuất băng nhạc ở Sài gòn thời trước, anh ạ. Họ thâu tiếng hát của tôi nguyên một cái tape rồi họ nói với tôi: "Chị Thái Thanh, tôi muốn quảng cáo cuốn tape này với câu Thái Thanh, tiếng hát vượt thời gian, có được không, thì tôi trả lời tùy ý ông bà.

- Thì đúng là tiếng hát Thái Thanh vượt thời gian thật.

Thái Thanh: Thưa anh là thế này, tôi hát từ năm 16 tuổi, bây giờ tôi gần bẩy mươi mà vẫn hát, nghĩa là hát cả cuộc đời rồi. Nếu tôi cứ hát mà ai nghe thì nghe, không nghe thì thôi thì không có tiếng hát vượt thời gian đâu. Nhưng tôi biết khán giả yêu mến tiếng hát của tôi. Tôi được yêu như vậy, được yêu từ thập niên 1950, rồi 1960, tới nay cũng vẫn được yêu, phải không anh?

Hỏi: Chị có nhớ đã thâu băng thâu dĩa bao nhiều bài nhạc không?

Thái Thanh: Không thể nào nhớ được. Chỉ biết là nhiều lắm. Nói chung là bao nhiêu bài của Phạm Duy, của Phạm Đình Chương, hai ông anh có bao nhiêu bài thì cô em này hát hết.

Hỏi: Chị có thể cho biết chị thích loại nhạc nào nhất?

Thái Thanh: Mười bài "Đạo Ca" của Phạm Duy.

- Phạm Duy còn mười bài "Tục Ca".

- Không, tôi không hát mười bài này.

- Chị nghĩ thế nào về Tục Ca?

Thái Thanh nhún vai cười: Tôi có nghe anh Phạm Duy hát cho nghe vài lần nhưng mà tôi không hát. Tục là không có hát.

- Còn Tâm Ca, Dân Ca... nữa. Chị thấy Phạm Duy thành công ở loại nhạc nào?

Thái Thanh: Mấy loại nhạc ấy, cả Tình Ca nữa, Phạm Duy đều thành công cả. Nhạc của ông ấy loại nào ra loại ấy mới tài chứ. Nhưng giờ thì tôi thích nhất là Đạo Ca.

Thái Thanh bước tới chiếc máy, bật lên. Băng Đạo Ca đã có sẵn, bung ra gian phòng êm ả những nốt nhạc thanh thoát. Giọng Thái Thanh vút lên như tiếng chuông ngân từ một ngôi chùa cổ nơi rừng núi, rồi bay theo gió, quyện vào những làn khói trong buổi chiều tà...Thái Thanh ngồi nghe giọng mình hát mà cũng như say như đắm. Tôi hiểu rằng những âm thanh của giọng ca Thái Thanh với mười bài Đạo Ca này đã ru chị ngủ trong những đêm đơn côi chợt nhớ ánh đèn sân khấu, và trong những lúc ngồi một mình trong căn phòng hẹp này mà nhớ những bước viễn du rộn rã những tràng pháo tay khen ngợi.

Hết một bài ca, chị tắt máy, trở lại bàn ngồi bên chúng tôi.

Tôi hỏi chị: "Đời ca hát đã để lại cho chị nhiều kỷ niệm lắm nhỉ ?". Chị gật đầu: Vâng, tất nhiên rồi. Nửa thế kỷ mà qua đi nhanh chóng quá, phải không các anh. Tôi còn nhớ ngày nào, hồi ở hậu phương, mới mười mấy tuổi đầu, được các anh các chị cho lên sân khấu trong một buổi trình diễn ngoài trời. Nay thì chị Thái Hằng mất rồi. Anh Hoài Bắc mất rồi. Anh Hoài Trung cũng mất rồi... Anh em chúng tôi đi trình diễn chung với nhau, vui lắm anh. Chỉ buồn là đêm hát nào mà gặp trời mưa lớn, khán giả không tới đông...

Nguyễn Đắc Điều: Tôi được biết chị lần đầu tiên ở Hà Nội khi đi xem Đoàn Gió Nam của chị từ Sài Gòn ra hát. Đoàn Gió Nam hát ba buổi, tôi tuy còn bé nhưng cũng đi xem cả ba buổi...

Thái Thanh: Anh làm tôi nhớ lại hồi đó. Ngoài Ban Hợp ca Thăng Long, đoàn còn có nhiều anh em nghệ sĩ khác như anh Trần Văn Trạch. Anh Trạch trình diễn hài hước, làm trò được khán giả ái mộ lắm. Sau này chúng tôi làm gì thì anh ấy cũng hợp tác cả. Thành ra khi nghe tin anh ấy mất, chúng tôi xúc động lắm... Chắc các anh còn nhớ báo chí lúc đó có viết là trước khi anh Trạch nhắm mắt, anh ấy có tiết lộ là anh ấy thương tôi lắm, nhưng anh ấy giữ kín trong lòng...

Nguyễn Đắc Điều: Nhưng chị có biết là anh ấy thương chị không?

Thái Thanh: Dạ... anh ấy không nói với tôi chuyện ấy. Đến lúc anh ấy mất thì báo chí mới loan tin là anh ấy nói như thế. Anh ấy là một người kín đáo. Nên bây giờ các anh hỏi tôi vào cái thời chúng tôi làm việc chung, tôi có biết anh Trạch thương tôi không thì tôi phải trả lời là tôi không biết. Con người đó thật là kín đáo và tự trọng. Anh ấy không có nói thẳng ra...

Nguyễn Đắc Điều: Thế sau khi nghe được tâm sự của anh Trạch, chị nghĩ thế nào?

Thái Thanh: Tôi rớt nước mắt chứ. Là vì ngoài chuyện biết người ấy thương mình, anh ấy còn là bạn thân, một đồng nghiệp nữa... Tôi rất quí trọng anh ấy. Khi trình diễn những màn diễu tôi nghĩ đâu có người nào bằng anh Trạch. Anh ấy đã đi nhiều nước trình diễn, nói được nhiều thứ tiếng. Anh ấy có kiến thức và có tài lắm... nên khán giả rất là thích.

Tôi hỏi chị Thái Thanh: "Trong cuộc đời ca hát của chị, chị từng hát trên sân khấu, trong phòng thu âm, trong phòng thu hình, nơi nào khiến chị cảm hứng nhất ?"

Thái Thanh trả lời không suy nghĩ: Mỗi nơi cái cảm hứng nó đều như nhau hết, anh ạ. Hát ở trong phòng thu thì khán giả của tôi không nhìn thấy tôi, chỉ nghe thấy tiếng hát của tôi, nhưng tôi cũng có cảm tưởng tôi nhìn thấy khán giả đang vui vẻ hay đang trầm lặng theo bài hát của tôi. Vì thế tôi cũng hát như đang đứng trên sân khấu vậy. Chỉ khác là khi hát trong phòng thu, tôi thường nhắm mắt mà hát cho thật tập trung, kiểu thần giao cách cảm. Còn khi hát ở sân khấu, mình nhìn thấy khán giả mà, nên mình diễn tả bằng tay, bằng cử điệu và bằng mắt bằng miệng nữa... Nhưng cảm giác thì mạnh như nhau.

Nguyễn Đắc Điều hỏi: Anh Phạm Duy có giúp gì cho giọng hát của chị không ?

Thái Thanh: Người luyện tôi hát là anh Hoài Bắc. Anh ấy mua sách báo âm nhạc của Pháp bầy bán ở Sài gòn hoặc đặt mua từ Paris, nói với tôi: "Em ạ, em muốn hát hay thì em phải đọc sách này, và anh sẽ chỉ dạy cho em. Nếu em hát có phương pháp như trong sách thì em còn hát hay hơn thế nữa chứ không phải chỉ thế này thôi đâu. Anh tôi dạy tôi từ nốt nhạc đồ rê mi fa sol la si đô.. Vừa học vừa hát. Sau đó anh tôi lại nói : "Em hát được thì em phải viết được. Tôi hỏi : Thế anh nói em hát được thì viết được là như thế nào ? Anh ấy bảo, ví như bài Do majeur thế thì em hát "Phố núi cao..." nhé thì em hát đồ, mi, mi đồ, đồ mi sol sol đồ đồ đồ mi sol, sol fa fa fa fa sol đồ... Em phải tập như thế. Cái đó nó luyện luôn giọng và nó làm cho mình học được luôn... Thành ra từ đó, tôi hát cái gì là tôi viết ra... Vì vậy bây giờ tôi mới dậy hát mười mấy năm nay. Mình phải có trình độ của mình thế nào chứ.

Hỏi: Chị dậy hát đã nhiều năm nhưng có đào tạo được ca sĩ nào không?
Thái Thanh: Khi tôi quyết định mở lớp dạy hát, ban đầu tôi chỉ nghĩ là chỉ có những học trò nhỏ tuổi. Nhưng sự thực không phải vậy. Lớp học của tôi người lớn nhiều hơn, và có cả những người già nữa đấy. Người già nhiều lắm. Bác sĩ và bà bác sĩ, luật sư và bà luật sư... Thành ra học hát không phải để trở thành ca sĩ chuyên nghiệp đâu mà để tạo một thú chơi tao nhã, lành mạnh với nhau. Những người này gặp nhau rồi mở ra cái gọi là "chiêu hiền quán" đông tới mấy chục người, vui lắm. Họ mở ra những cuộc thi hát nữa...

Câu chuyện dạy ca hát cho những người bạn khiến Thái Thanh luôn luôn cười thật sảng khoái. Tôi khen bàn tay chị đẹp, chị giơ bàn tay ra trước mặt, xoay qua xoay lại như tự tán thưởng làn da trắng mát và săn cứng như miếng thạch. Chị nói: "Nhiều người khen bàn tay tôi đẹp". Tôi hỏi: "Ban nãy chị nói chị đã bẩy chục?" Thái Thanh gật đầu: "Vâng. Tôi sinh năm 1934 tức tuổi Tuất mà".

Hỏi: Chị sanh ban ngày hay ban đêm?

Thái Thanh: Buổi sáng anh ạ.

Hỏi: Chị có tin tử vi không?

Thái Thanh: Rất tin tử vi. Nhưng phải gặp được ông thầy giỏi mới trúng.

Nguyễn Đắc Điều: Chị thấy tử vi trúng với cuộc đời chị?

Thái Thanh: Trúng nhiều lắm.

- Chị có tính về quê hương không?
Thái Thanh ngậm ngùi:
- Quê hương, nơi mình sinh ra, rồi là nơi chứng kiến từng bước đi đầu đời của mình thì ai chẳng muốn về. Nhưng sau năm 1975, tôi dù ở Sài gòn cũng chưa một lần về miền Bắc, và nay, ở Mỹ, tôi chưa bao giờ tính chuyện về Việt Nam. Gia đình của tôi đã ở đây hết. Ông bà, bố mẹ thì mất cả rồi. Ở Việt Nam mình không còn ai để phải về cả...

Câu nói của chị Thái Thanh ám ảnh chúng tôi trên đoạn đường về. Tôi biết khi chúng tôi từ biệt thì người nữ ca sĩ ở tuổi xế chiều này sẽ ngồi một mình trước pho tượng Phật. Có thể chị sẽ mở cuốn băng Mười Bài Đạo Ca. Và cầu nguyện.

Ban nãy chị tâm sự rằng chị luôn luôn cầu nguyện cho mọi người trước khi cầu nguyện cho bản thân chị. Ôi cao cả thay tấm lòng của người nghệ sĩ tài hoa ấy.

Đời tôi đã mang nợ chị quá nhiều, vì tiếng hát của chị đã ảnh hưởng vào tâm tư tình cảm tôi khi tôi đang bước trên đường tình cũng như lúc tôi ngồi bó gối trong chiếc xe tù chuyển trại, chợt nghe đâu đó giọng hát ngọt ngào của chị. Món nợ ấy chưa trả nay lại chồng thêm một món nợ mới mà tôi vừa phát giác, đó là lời cầu nguyện của chị cho mọi người trong đó có tôi, được sống thanh bình, hạnh phúc.

Hoạ sĩ JUNG HUN SUNG ( Hàn Quốc) lớn lên ở Yeosu và hiện sống tại Goyang. Sở trường vẽ màu nước và đã sáng tác nhiều tác phẩm tuyệt đẹp. Để thành công với chất liệu màu nước là điều không dễ dàng. Với sơn dầu, nếu không thích, ta có thể chồng màu khoả lấp cái cũ để vẽ cái mới. Với màu nước thì không thể, một nhát cọ đã buông xuống thì không sửa được hoặc rất khó để sửa. Do vậy, vẽ màu nước cần có tay nghề thành thục và kinh nghiệm lâu dài với chất liệu này. Tui giới thiệu một trong rất nhiều tác phẩm của Jung Hun Sung cho mọi người cùng thưởng lãm. Cứ tưởng tượng ta đang đi vào phòng trưng bày tranh và lần lượt thưởng thức.
23.2.2020
DODUYNGOC

Xem ảnh Full


Tôi đếm mười con cừu, trăm con cừu,ngàn con cừu
Tất cả đứng chênh vênh trên núi đá
Một vài con len lỏi ở trong khe
Vẫn không ngủ được
Đêm vô tận


Tôi đếm hàng triệu con ruồi trong bãi rác
Lúc nhúc như loài người ở địa cầu
Chúng kêu bằng một âm thanh kỳ lạ
Tiếng kêu từ đôi cánh chăng?
Những con mắt lồi trừng trừng nhìn tôi
Tôi vẫn thức
Và đêm vẫn dài

Tôi đếm những giấc mơ tôi đã mơ suốt một đời
Chúng bay cùng mây trên trời
Để lại những đắng cay
Và tiếc nuối
Giấc mơ không có âm thanh
Chúng nói bằng ngôn ngữ của tịch liêu
Tôi vẫn nhìn trần nhà
Đêm đông đặc lại

Tôi đếm những mặt nạ tôi đã gặp
Chúng nhiều như bướm
Mặt đỏ, mặt xanh, mặt vàng, mặt trắng
Toàn gian trá và lừa lọc
Tôi muốn đọc một câu trong kinh thánh
Chưa nhớ thì đã quên
Đêm tuyệt vọng
Tôi cũng chẳng còn hi vọng
Đôi mắt mở to giữa bề bộn chiếu giường

Tôi đọc vạn lời kinh từ khi tiếng chuông đồng hồ đổ
Chữ nghĩa bay phất phơ
Chuông mõ trốn biệt
Kinh cầu xẹt qua bóng tối
Tôi nhìn đêm
Đêm đứng ngoài cửa sổ

Tôi nguyền rủa đời mình bằng những tiếng lắp bắp
Những giọt mồ hôi giữa khuya vắng
Cơn dục tình không động đậy
Tôi nằm im nghe tiếng chó sủa trăng
Giấc ngủ chẳng về
Đêm trượt dài vết xước

Tôi đếm những người phụ nữ đã đi qua
Một hai ba bốn năm sáu bảy tám chín mười mười một
Không thiếu dối lừa và tệ bạc
Cũng thừa thãi đắm say
Những người phụ nữ đâm vào tôi rồi mất hút
Như bóng đêm
Cả một nửa thế giới ngủ rồi
Tôi còn thức

Sáng nay tôi như kẻ mộng du
Và buổi chiều một cơn choáng đến đột ngột
Khi đang ngồi với một ông tu sĩ
Điếu thuốc rời khỏi tay và những tờ tiền xanh bay lả tả
Quay mòng mòng như say sóng
Đêm đã bào mòn tôi
Và đời tôi đang mỏng dần đi
Một cái ngáp giữa hoàng hôn
Đêm nay lại thức
21.2.2020
DODUYNGOC



Thế là Tết đang đến. Đang là trưa 30 Tết. Nhà toả mùi nhang trầm, bỗng nhớ nhiều về những cái Tết của những ngày xưa cũ. Tết của những năm xưa cứ hiện về, không quên được. Nhớ nhất là bàn thờ, ba tôi luôn chú trọng cái bàn thờ dù trong hoàn cảnh nào. Ngày thường đã chăm chút, ngày Tết lại càng chăm sóc nhiều hơn. Khoảng sau khi đưa ông Táo về trời, tôi và anh trai lớn phải bắt tay vào chùi cho bóng bộ tam sự bằng đồng. Bộ này gồm cặp đèn, bộ lư, bình bông. Tất cả đều có chạm trổ mai lan, hoa điểu nên chùi rất cực. Phải cho thuốc vào các kẽ cho thấm, phơi nắng rồi mới dùng giẻ lau cho bóng ngời lên. Trước đó mấy hôm, tôi phải đi mua cát trắng về thay bát nhang mới. Những chân nhang cũ đem đốt, bỏ cát cũ, thay cát mới trắng ngần. Nhà tôi thờ một bức tranh Quan Thế Âm làm bằng vải nổi, bức tranh tượng rất nghệ thuật mà sau này tôi không còn tìm thấy đâu nữa. Tranh làm bằng vải bóng có hoa văn chìm nên không rửa được, hàng năm chính tay ba tôi lau chùi một cách thận trọng. Không hiểu sao ba tôi rất thích hoa vạn thọ, năm nào ba tôi cũng mua vài chậu để trước sân, trên hồ cá, màu vàng của hoa sáng cả một vùng. Mạ tôi lại chỉ thích hoa huệ trắng và hoa lay dơn đỏ. Một người thì thích loại hoa bình dân quê mùa, người kia lại chuộng loài hoa quý tộc, sang trọng. Hai ý thích trái ngược nhau thế mà vẫn sống với nhau hơn sáu mấy năm và sinh cả đàn con. Thế mới hay.

Chiều 29 Tết, ba ngồi gói bánh chưng. Ba tôi theo Tây học, học Huế rồi ra Vinh, không biết ba học gói bánh ở đâu và lúc nào mà ba gói rất khéo, bánh chặt, vuông vức mà chẳng cần khuôn. Mạ thì lo làm mứt, nhà đông con, món mứt nào cũng làm cả thau lớn. Tôi chỉ chờ món nào xong là xin vét thau, sao mà ngon thế. Đường cháy vàng, miếng mứt sót hơi quá lửa nhưng thật là tuyêt cú mèo. Mạ làm đủ thứ bánh, bánh in bột trắng, bánh đậu xanh khô, ướt nén trong những cái khuôn gỗ, bánh nổi lên những chữ Phúc, cành hoa. Xong lại gói trong giấy kiếng xanh đỏ nhìn rực rỡ sắc màu. Mấy người giúp việc thì lao xao cắt tiết gà vịt. Tôi tránh mấy cảnh này vì thấy thương chúng quá nhưng ăn thịt chúng thì chẳng chê. Dưa món, dưa kiệu xếp đầy trên garde manger. Có mấy hủ thịt dầm nước mắm, thịt đã thấm trong veo miếng mỡ, mai mốt mới được ăn.
Tất bật thế nhưng Mạ vẫn khoan thai với những giọt mồ hôi. Bận rộn thế nhưng Ba lại bao dung không khó khăn la mắng các con như ngày thường. Tết mà.

Trưa 30, pháo nổ đì đẹt khắp nơi. Sân nhà đủ màu của bông hoa, giữa sân thêm chậu mai vàng. Nấu nướng đã xong, tôi không còn chực để vét nồi, bắt đầu chạy đi lượm pháo lẻ nhà hàng xóm. Cứ nghe đâu có tiếng pháo là chạy đến, pháo vừa dứt tiếng là ùa vô lượm mấy viên pháo lép. Ôi những viên pháo lép của ngày xưa, niềm vui ngày Tết của một thời không tìm thấy nữa. Những viên pháo với tiếng nổ, với khói xịt và mùi thuốc súng. Đó là mùi của Tết. Mùi thuốc súng, mùi nhang trầm, mùi thức ăn ngào ngạt tạo ra một mùi thật lạ lùng chỉ có trong những ngày Tết. Ba bận bộ áo the đen, trịnh trọng đốt đèn, lư đồng sáng ngời toả hương trầm, bàn thờ sáng rực ánh nến với ánh đèn chớp nháy quanh khung ảnh Quan Thế Âm Bồ Tát. Năm nào tôi cũng thấy ba tôi khóc, những giọt nước mắt của người đàn ông thường ngày là kẻ quyền uy nhất trong gia đình. Ba tôi nhớ quê hương, nhớ ông bà, nhớ mồ mả của ông bà nội không biết bao giờ mới được nhìn lại vì lúc đó đất nước chia hai bờ, chiến tranh chẳng biết bao giờ mới chấm dứt. Ba đốt một tràng pháo dài, xác pháo hồng tràn ngập sân, Tết tràn khắp nơi trong căn nhà. Rước ông bà xong là bữa cơm chiều ba mươi của gia đình. Mười mấy đứa con, thêm ba mạ, người làm, bữa ăn như là bữa cúng giỗ. Thức ăn ê hề lắm món, mấy đứa nhỏ loay hoay chẳng biết chọn món nào trước món nào sau, ba rót thêm chén rượu, một bữa ăn đầy những tiếng cười. Vừa bỏ chén xuống là tôi lại chạy đi kiếm pháo lép, để đầy một bọc, cứ ngồi ở sân mà đốt đì đùng. Sao hôm nay chợt nhớ tiếng pháo lạ lùng. Tiếng pháo của thời tuổi nhỏ đã đi qua không ngoái lại.

Đem ba mươi chúng tôi được thức chờ giờ giao thừa. Gió xuân lành lạnh, có năm phải mang áo ấm. Đồng hồ điểm mười hai giờ, pháo nổ khắp nơi. Bàn cúng ở ngoài sân, ba lại mặc áo the dâng hương rồi đốt thêm phong pháo. Tụi tôi ăn mặc chỉnh tề, xúng xính trong bộ quần áo mới, cũng cúi lạy chào xuân mới, rồi xếp hàng chúc Tết, rồi lại ăn khuya. Món chè đậu xanh Mạ nấu ngon thiệt là ngon, sau này mấy đứa con dâu nào cũng học nấu chè đậu xanh ở Mạ. Giờ trong đầu tôi vẫn hiện ra mồn một những dãy chén chè đậu xanh xếp lớp ở trên bàn, những cái chén kiểu trắng ngần vẽ rồng xanh. Những chén chè khoai môn tím rịm. Ôi chao! Nghe như có vị ngọt đang nằm trên đầu lưỡi.

Sáng mồng một, Ba dậy sớm lại đốt thêm phong pháo dài. Mạ diện chiếc áo dài nhung hoặc gấm. Mạ đeo chuỗi ngọc trắng, có khi là chiếc kiềng vàng. Ba bận bộ veston xanh đậm, thắt cà vạt đỏ chở mạ đi chùa, hái lộc. Hoa mai nở vàng sân.
Nhớ tà áo dài của Mạ, nhớ dáng bước của Ba.
Tụi tôi ở nhà, diện đồ đẹp hớn hở đi ra đi vào chờ khách đến lì xì. Ngày thường muốn ăn gì phải xin, có phép mới được ăn. Mấy hôm Tết được ăn thả dàn, đi ra bốc miếng mứt, đi vào lấy miếng bánh, ăn suốt cả ngày. Chiều tối cả nhà ngồi quanh chơi bài Tới. Nào là con Ầm, con Tuyết, Nọc đượng, Mõ... Vui lắm. Những con bài tới là những miếng bìa dài trên vẽ những hình ngoằn nghèo như tranh trừu tượng, như totem của mấy dân tộc da đỏ. Rồi chuyển sang đánh bài các tê. Mạ tôi là bậc sư của mấy món cờ bạc này, mạ chơi chỉ thắng chứ không bao giờ thua, tài thế. Đứa thua mặt méo xẹo, đứa thắng thì hớn hở. Mấy món cờ bạc này kéo dài đến tận mồng năm Tết. Rồi mọi chuyện trở về như cũ. Tết đi qua.

Bây giờ đã vào tuổi già, đã gần đến bảy mươi. Con cháu cũng đã đủ đầy, ngày Tết chẳng còn không khí cũ. Ba Mạ lần lượt khuất bóng, người thân cũng mất dần. Tết bây giờ thiếu pháo nên Tết mất đi một nửa không khí Tết. Thức ăn bây giờ cũng chẳng thiếu nhưng lại thiếu cái hồn Tết của những ngày cũ. Chiều ba mươi đốt nén nhang tưởng nhớ mọi người đã khuất, nhớ những ngày Tết năm xưa, lòng bỗng rưng rưng.
30 Tết
4.2.2019
DODUYNGOC

Chiều đã cũ rồi chiều rất cũ
Vạt nắng cuối ngày màu phôi pha
Ngồi trong sân lắng nghe tiếng lá
Lá về đâu gió lạc về đâu?


Tuổi đã mòn trôi giạt cuối sông
Chẳng còn ai để có chờ mong
Chiều cuối năm già không còn mộng
Lọ cô đơn cắm một bông hồng

Suốt một năm giờ còn một ngày
Ta không uống rượu nên chẳng say
Vẫn cảm đất trời đang nghiêng ngửa
Và đám mây cuồng vẫn tiếp bay

Chiều đã cũ rồi chiều rất cũ
Nắng băn khoăn một lát lùi đi
Chim lười biếng dấu đầu ủ rũ
Ta buồn tênh chẳng biết làm gì

Đốt cối thuốc thấy mình tồn tại
Lòng hoang mang theo khói lượn lờ
Thôi cứ chọn làm người thất bại
Để đêm nằm nuôi lại cơn mơ

Nhìn thiên hạ xôn xao giữa phố
Tết cận rồi ta vẫn dửng dưng
Không có pháo sao nghe tiếng nổ
Cứ râm ran chẳng biết điểm dừng

Chiều đã cũ rồi chiều quá cũ
Đang trôi dần về phía hoàng hôn
Nắng cũng nhạt, phai trên vành mũ
Tiếng chim kêu nghe bỗng hoảng hồn
Sài Gòn.29 Tết
23.01.2020
DODUYNGOC




Món ăn lừng danh thiên hạ gắn liền tên tuổi đô thị cổ
Ngày 27.12, TP.Mỹ Tho (Tiền Giang) sẽ kỷ niệm 340 năm thành lập Mỹ Tho đại phố, đô thị có tuổi đời cao nhất vùng Nam Bộ, trước cả đô thành Sài Gòn-Gia Định. Theo sử sách, khoảng năm 1623, Mỹ Tho (theo tiếng Khơme có nghĩa là cô gái đẹp) đã có những nhóm lưu dân người Việt đến khai phá, định cư xen kẽ với cư dân người Khơme có mặt từ trước.
Sách Đại Nam nhất thống chí viết, tháng giêng năm Kỷ Mùi thứ 32 (1679) một nhóm người Minh Hương do tướng Dương Ngạn Địch của nhà Minh (Trung Quốc) không đầu phục nhà Thanh, nên đem binh lính và quyến thuộc hơn 3.000 người và hơn 50 chiến thuyền xin quy phục chúa Nguyễn. Lúc bấy giờ, chúa Nguyễn cho Dương Ngạn Địch đưa thuyền vào cửa Tiểu, cửa Đại, đến khai khẩn, định cư ở Mỹ Tho.
Tại đây, nhóm Dương Ngạn Địch nhóm họp với người Việt, người Khơme khai khẩn ruộng đất, trồng trọt, lập thôn ấp. Tận dụng nguồn lợi sản vật dồi dào của địa phương, nguồn nhân lực đã khá đông, lại có vị trí địa lý thuận lợi, nhóm người của Dương Ngạn Địch lập Mỹ Tho đại phố, từ đó tàu thuyền tới lui buôn bán đông đúc.
Mỹ Tho đại phố được xác lập tọa lạc ở làng Mỹ Chánh, H.Kiến Hòa, nằm dọc theo nhánh bên trái của rạch Mỹ Tho, bắt đầu từ bến Tắm Ngựa ở chỗ giao nhau giữa rạch Mỹ Tho với sông Tiền (nay thuộc P.2, TP.Mỹ Tho), chạy dài theo đường Nguyễn Huỳnh Đức hiện nay khoảng 4km (nay thuộc P.2 và P.8, TP.Mỹ Tho) cho đến cầu Vĩ, Gò Cát (nay thuộc xã Mỹ Phong, TP.Mỹ Tho).
Ngày xưa, ghe thuyền, vật lực từ các địa phương khác, kể cả nước ngoài tụ họp về Mỹ Tho đại phố rồi tỏa ra khắp nơi, thông thương với các địa phương khác. Từ thế kỷ 17, Mỹ Tho đại phố đã trở thành một trung tâm thương mại lớn nhất Nam Bộ lúc bấy giờ, là thương cảng có quan hệ buôn bán với nhiều thương nhân nước ngoài như Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Campuchia, Indonesia, Philippines…
Sau đó rất nhiều làng xã mọc lên xung quanh khu vực Mỹ Tho đại phố như An Hòa (Thạnh Trị), Điều Hòa, Bình Tạo, Phú Hội, Đạo Ngạn, Mỹ Hóa… Đến thế kỷ 17, 18, các chúa Nguyễn đã xác lập và khẳng định chủ quyền vùng đất Mỹ Tho vào bản đồ Đại Việt, từ đó mở mang bờ cõi, nối liền một dải từ bắc sông Tiền tới miền Hà Tiên (Kiên Giang).
Năm 1808, trấn Định Tường được thành lập với Mỹ Tho đại phố là lỵ sở. Đến năm 1826, vua Minh Mạng cho dời lỵ sở trấn Định Tường sang phía tây sông Bảo Định thuộc 2 thôn Điều Hòa và Bình Tạo của H.Kiến Hưng (nay thuộc các P.1, P.4 và P.7), phủ Kiến An, tỉnh Định Tường và vẫn giữ tên gọi Mỹ Tho.
Năm 1861, người Pháp chiếm thành Định Tường, san bằng thành lũy và cho xây dựng các công sở, chợ, trường học, nhiều công trình khác tại làng Điều Hòa (P.1 và P.7 ngày nay) và khu vực này trở thành trung tâm TP.Mỹ Tho cho đến ngày nay. Năm 1900, Mỹ Tho trở thành tỉnh lỵ Mỹ Tho, có đường xe lửa dài 70km nối với Sài Gòn, do người Pháp xây dựng năm 1881, khánh thành vào tháng 7.1885, là tuyến đường sắt sớm nhất ở Đông Dương.
Tròn 340 năm tuổi, cùng với sự biến thiên của thời gian và tốc độ đô thị hóa, ngày nay dấu tích xưa của Mỹ Tho đại phố hầu như không còn. Có chăng chỉ còn vài di tích tuổi đời chưa đến 200 năm như Trường trung học Mỹ Tho (Collège de Mytho, mở năm 1879), chùa Vĩnh Tràng (xã Mỹ Phong), chùa Bửu Lâm (P.3), chùa Thiên Phước (xã Mỹ Phong), chùa Ông (P.8)…
Nhưng có một món ăn lừng danh mà bất kỳ ai khi đến TP.Mỹ Tho đều phải tìm ăn cho bằng được, đó là hủ tiếu Mỹ Tho. “Hồi nhỏ tôi nghe ông bà xưa hay kể, hủ tiếu và mì, bánh bao là món ăn của người Hoa, nhiều khả năng xuất hiện ở Mỹ Tho từ khi nhóm người Minh Hương của tướng Dương Ngạn Địch thành lập Mỹ Tho đại phố. Vì vậy có thể nói, Mỹ Tho đại phố bao nhiêu tuổi thì món hủ tiếu Mỹ Tho lừng danh cũng có mặt trên vùng đất này từng ấy năm”, ông Phạm Văn Phương, người sành ăn quê gốc ở Mỹ Tho, cho biết.
Theo ông Phương, hiện nay TP.Mỹ Tho có rất nhiều tiệm bán hủ tiếu, nhưng muốn ăn được tô hủ tiếu Mỹ Tho nấu đúng bài bản là chuyện không dễ.
Bí ẩn trong tô hủ tiếu có lịch sử hàng trăm năm tuổi
Ông Phương cho biết món hủ tiếu Mỹ Tho được nhiều người biết đến vào những năm 1950-1960, được bán trong hàng loạt tiệm mì nổi tiếng của người Hoa như Khánh Ký, Tuyền Ký, Vĩnh Ký, Hưng Ký… Nhưng hiện tại, khi đến TP.Mỹ Tho, thực khách khó tìm được tô hủ tiếu được nấu theo kiểu ngày xưa, bởi ngày càng có nhiều cách nấu khác nhau, khiến rất nhiều người ngộ nhận về món ăn này.
Theo ông Phương, tô hủ tiếu Mỹ Tho được đánh giá là “ngon đúng điệu” thì nồi nước lèo phải được hầm bằng xương heo và củ cải trắng, tôm khô, mực khô, củ cải muối để lấy vị ngọt. Nếu dùng đường cát, bột ngọt, bột nêm tạo vị ngọt thì nồi nước lèo xem như… vứt. Ngoài nước dùng (nước lèo) “đặc sản”, tô hủ tiếu Mỹ Tho được trang bị thêm mộ số “phụ tùng” như thịt nạc, thịt bằm, sườn non, tim, gan, phèo heo, tôm bóc vỏ, giá, hẹ, cải xà lách, dấm Tiều, chanh, ớt.
Tuy nhiên, hồn cốt của món ăn trứ danh này không nằm ở các món ăn kèm mà chính là ở sợi hủ tiếu. Ông Phương kể, từ xưa sợi hủ tiếu Mỹ Tho cọng nhỏ, dai, mềm, thơm phức mùi gạo khiến mọi người ưa chuộng do được làm từ những hạt gạo ngon nổi tiếng của xứ Gò Cát thuộc vùng phụ cận của Mỹ Tho đại phố (nay là xã Mỹ Phong, TP.Mỹ Tho).
Sợi hủ tiếu Mỹ Tho nổi tiếng đến mức, nhiều năm qua TP.Mỹ Tho đã thành lập hẳn một làng nghề truyền thống chuyên sản xuất sợi hủ tiếu, bánh, bún từ bột gạo ở xã Mỹ Phong. Hiện nay xứ Gò Cát không còn trồng lúa, nên gạo Gò Cát cũng không còn. Các nghệ nhân làng nghề phải sử dụng các loại gạo ngon của những vùng khác để sản xuất sợi hủ tiếu, nhưng chất lượng không thua kém sợi hủ tiếu Gò Cát ngày xưa.
“Mấy năm nay Việt kiều sinh sống ở Mỹ, châu Âu, châu Úc… khi ghé Mỹ Tho đều tìm mua sợi hủ tiếu Mỹ Tho về làm quà, nhưng ít người biết Mỹ Tho không còn gạo Gò Cát. Trong khi đó khách thập phương khi đến Mỹ Tho đều phải tìm ăn cho bằng được 1 tô hủ tiếu nổi tiếng có lịch sử hàng trăm năm.
Nhưng hiện nay tại Mỹ Tho, món hủ tiếu ngày càng có nhiều biến tướng khi chủ quán cho thêm vào cả thịt gà, cá, mực, bò viên, trứng cút, giò heo… khiến người ăn không thể phân biệt như thế nào mới là tô hủ tiếu Mỹ Tho chính hiệu. Theo tôi, hiện tại ở TP.Mỹ Tho những quán nấu được món hủ tiếu đúng điệu, mà nấu ngon nhất chính là những quán do người Hoa làm chủ, chỉ còn đếm trên đầu ngón tay”, ông Phương nói.
Nhắc đến hủ tiếu Mỹ Tho, có chi tiết thú vị mà ít người còn nhớ: năm 2008 khi TP.Long Xuyên (An Giang) đăng cai tổ chức Hội chợ Hàng Việt Nam chất lượng cao thì tỉnh Tiền Giang cử các nghệ nhân của làng nghề bánh bún, hủ tiếu Mỹ Phong mang món hủ tiếu đặc sản trứ danh đến tham dự.
Lúc bấy giờ, dù TP.Long Xuyên có đủ loại hủ tiếu, kể cả món hủ tiếu Nam Vang và hủ tiếu cá Châu Đốc lừng danh, nhưng mỗi ngày vẫn có hàng trăm lượt người vào hội chợ xếp hàng để được thưởng thức món hủ tiếu Mỹ Tho nổi tiếng.
Người ta ăn hủ tiếu Mỹ Tho nhiều đến mức các đầu bếp phải hối thúc người ở nhà tăng cường gửi các loại nguyên liệu, gian hàng phải mở cửa bán suốt ngày trong khi kế hoạch ban đầu chỉ bán vài hôm để… lấy tiếng.
Trong khi đó, theo ông Phương, rất ít món ăn có tên tuổi gắn liền với địa danh hàng trăm năm mà vẫn “nổi tiếng thiên hạ” như hủ tiếu Mỹ Tho, nên dịp kỷ niệm 340 năm khai sinh Mỹ Tho đại phố thì món hủ tiếu Mỹ Tho trứ danh cũng nên được đề cập, quảng bá, tôn vinh xứng tầm.
Thanh Anh

Ta như con thú bị thương
Tìm nguồn nước
Suối hồ ở sát đây mà không tới được
Ta lê thân
Bò như loài bò sát
Chỉ một bước chân chẳng với tới
Ngã sóng soài trên nền nhà
Nằm yên và thở
Nước mắt tràn đầy mặt
Trần nhà như bầu trời
Đổ ập xuống
Không điều khiển được thân thể mình
Ta kêu gào như loài thú
Rừng hoang vu
Và căn nhà lạnh lẽo
Thú đã bỏ rừng đi vì sự ruồng đuổi của loài người
Ta một mình và chẳng còn ai


Nỗi cô đơn là độc dược
Ta hiểu tại sao Kawabata mở lò gaz kết liễu đời mình
Ta hiểu tại sao Van Gogh bắn vào ngực mình bằng khẩu súng lục
Ta hiểu tại sao Hemingway nã vào đầu mình bằng khẩu súng săn
Và vì sao Robin Williams tự sát
Nỗi cô đơn là thủ phạm

Ta bây giờ là con thú bị tù hãm
Không liếm được vết thương
Nằm trong hang giữa sa mạc
Nỗi cô độc chỉ có gió và cát
Và cô đơn sẽ giết chết ta trước khi vết thương kết liễu mạng sống
Ta gào lên không vọng âm
Giáng sinh
Chúa vắng mặt
Chẳng còn ai, không còn ai
Thế giới đã chết
24.12.2019
DODUYNGOC

Trước năm 1975, tui khoái kiểu vẽ bìa nhạc của hoạ sĩ Duy Liêm và Kha Thuỳ Châu. Nhiều bản nhạc tui không thích nhưng vì cái bìa nên tui cũng mua. Hai hoạ sĩ vẽ hai phong cách khác nhau, đặc biệt là hoạ sĩ Duy Liêm, hình vẽ của ông có nhiều hình khối, đường cong, nét gãy rất đặc biệt. Chữ tít bản nhạc ông cũng thường sử dụng những nét gãy không giống ai trước đó tạo thành font chữ của Duy Liêm. Hồi thời sinh viên, tui nhận viết thông báo, vẽ bích chương, biểu ngữ cho Viện Đại học Vạn Hạnh, rồi nhận làm bìa sách, tui cũng thường bắt chước kiểu chữ của ông. Sau năm 1980, tui vẽ rất nhiều bìa sách, cũng học của ông rất nhiều về bố cục, font chữ.


Sau này khi tìm hiểu về hoạ sĩ Duy Liêm mới thấy ông có số lượng sáng tác đồ sộ và phong phú vô cùng. Ông đã từng vẽ tiền từ thời Việt Minh, vẽ áo dài cho bà Ngô Đình Nhu, tranh sơn mài Thành Lễ, Lam Sơn, mẫu thêu, tranh lụa, tranh sơn dầu. Hoạ sĩ Duy Liêm từ năm 1954 đến khi qua đời đã vẽ hàng trăm bìa sách, hàng trâm bản nhạc. Ông là người kín tiếng, không khoe khoang cũng như ít ngao du với văn nghệ sĩ nên ít người biết ông là một hoạ sĩ đa dạng, đa tài và có một số lượng tác phẩm gây sửng sốt cho người tìm hiểu về ông. Các nhạc sĩ miền Nam trước 1975 thường muốn có bìa nhạc của mình do hoạ sĩ Duy Liêm vẽ. Thời đó nổi bật có các nhà xuất bản chuyên in nhạc là Tinh Hoa Miền Nam, Diên Hồng, Sống Mới…đây là các nhà xuất bản rất chuộng nét vẽ của hoạ sĩ Duy Liêm.

Trong cuốn sách “Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại » (in tại Hoa Kỳ năm 2009) của nhà phê bình nghệ thuật Huỳnh Hữu Ủy, phần “Tiến vào nghệ thuật mới”, tác giả xếp họa sĩ Tạ Tỵ và Duy Liêm vào một nhóm. Theo Huỳnh Hữu Ủy, sau 1954 cho đến các năm 70, Duy Liêm đã rất thành công với “Lập thể Duy Liêm” trong đại chúng, xâm nhập mạnh mẽ vào trong cuộc sống hằng ngày của mọi tầng lớp nhân dân. Đặc biệt là các minh họa trên các bìa nhạc của các nhạc sĩ nổi tiếng như Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Hoàng Trọng, Nguyễn Hữu Thiết, Phạm Đình Chương… và vẽ nhiều mẫu tranh cho hãng Thành Lễ với tư cách là họa sĩ chính. (Phạm Công Luận)
(Trích trong cuốn “Sài Gòn – Chuyện đời của phố” tập 1)

Nhiều người treo trong nhà những bức sơn mài của Thành Lễ trước đây và Lam Sơn sau này nhưng chẳng mấy người biết đó là tác phẩm của hoạ sĩ Duy Liêm. Cho đến giờ, gần 60 đi qua, tui vẫn kính phục ông, vẫn mê những tranh và bìa nhạc của ông.
17.12.2019
DODUYNGOC

HOẠ SĨ DUY LIÊM


Hôm qua mây toả về trời
Một người đứng lại tơi bời ruột gan
Đưa đôi tay gói gian nan
Con trăng lạnh buốt giữa ngàn ngói xiêu


Bên cành lau trắng cuối chiều
Xôn xao đá vỡ với nhiều khói bay
Còn chi đâu ngửa bàn tay
Buồn gieo lên hạt phơi bày cơn đau

Ta chôn đời đến ngàn sau
Rừng khô lá mục chín màu trăm năm
Sóng xô trắng xoá chỗ nằm
Gió xao xác gọi mưa bằm thịt xương

Người đâu hình đọng trong gương
Tiệc tan ly vỡ chiếu giường buồn thiu
Ngóng trời cây lá hắt hiu
Phần đời sót lại chắt chiu một mình

Giữa sân chim đứng làm thinh
Bên hiên nắng dọi in hình gãy ngang
Kỷ niệm xưa đứng xếp hàng
Sầu vừa chín héo sẵn sàng máu khô

Lạnh về lớp lớp sóng xô
Heo may lãng đãng mơ hồ tiếc thu
Đông về tờ lịch sa mù
Tháng mười hai đợi tội tù tiếp theo
4.12.2019


Nhìn những bức ảnh dưới đây, ta trầm trồ vì độ chân thực và thần thái của nó. Ta lại càng thán phục hơn khi biết rằng những tác phẩm này được vẽ bằng bút nguyên tử, loại bút bây giờ gọi là bút bi, học sinh thường sử dụng. Nghệ sĩ tài hoa tạo nên những tác phẩm tuyệt vời này là Enam Bosokah, nghệ sĩ của lục địa đen.

Enam Bosokah là một nghệ sĩ người Ghana sử dụng bút bi để vẽ những bức chân dung tuyệt đẹp, chân thực.

Cách đây vài năm, nghệ sĩ người Ghana, anh Bosokah, đang làm việc trong một nhóm sắp đặt tác phẩm điêu khắc. Do những hạn chế của dự án, anh chán nản và cảm thấy rằng sự sáng tạo của mình đang bị lạm dụng. Và anh ấy bắt đầu vẽ bằng bút bi như một hình thức thể hiện khác. Anh ta đã vẽ chân dung bằng bút bi.từ thời còn đi học trung học, anh đã nhiều lần vẽ lung tung trên giấy bằng cây bút đi học của mình

Kể từ khi trở nên chuyên nghiệp với cây bút ba năm trở lại đây, Bosokah đã tự khẳng định mình là một trong những nghệ sĩ bút bi nổi tiếng nhất Châu Phi. Tác phẩm của ông, một số trong đó là những nhân vật nổi tiếng, có rất nhiều trên internet như là bằng chứng về nghệ thuật của ông. Khi tìm kiếm trực tuyến tên của anh ta sẽ thấy chân dung của Bob Marley, Kwame Nkrumah, Nelson Mandela và các biểu tượng da đen nổi tiếng khác, những người anh coi là mẫu mực.

Cho đến nay, anh đã có ba triển lãm cá nhân và một triển lãm nhóm. Anh tham gia triển lãm nhóm, Văn hóa Canvass, vào tháng 7 năm 2013, tại khách sạn Movenpick tại Accra, trong khi chương trình solo đầu tiên của anh, Triển lãm Ghoe, được tổ chức vào tháng 11 năm 2014 tại Golden Tulip, Kumasi.

Cùng lúc làm việc để triển lãm, Bosokah cũng nhận làm việc theo đơn đặt hàng, với mức phí từ 375 đô la đến 500 đô la một tấm tranh, theo True African Arts. Trong mọi trường hợp, anh kiếm được hàng ngàn trong khoảng một tuần để hoàn thành, anh làm việc chủ yếu vào ban đêm - vì sự yên tĩnh - từ nhà của anh ở Accra.

Quy trình bắt đầu bằng cách chọn một cây bút và tờ giấy, anh nói. Sau đó, tôi tạo một bản phác thảo nhanh hoặc theo dõi hình ảnh tham chiếu của mình và tiến hành bằng cách tạo các lớp nét, sắp xếp lại các nét và các dấu chấm cho đến khi tạo xong hình cơ bản. Dần dần xây dựng các sắc thái và cuối cùng hoàn thiện bằng cách thiết lập các chi tiết. Công việc của tôi như thế là xong và tác phẩm đã sẵn sàng để đóng khung.

Enam Bosokah sinh ngày 17 tháng 3 năm 1987. Anh đến từ vùng Volta của Ghana, nơi anh học tiểu học và trung học. Bosokah xuất thân từ một dòng tộc nghệ sĩ và anh đã cho biết rằng anh vẽ tử thời còn bé, Giáo viên dạy anh đã ghi nhận tài năng của anh và khuyến khích anh nên chọn hội hoạ làm sự nghiệp.
Anh học nghệ thuật tại Đại học Khoa học và Công nghệ Kwame Nkrumah và sau đó hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp.

"Tôi đã chọn cây bút vì nó tiện dụng và có sức ảnh hưởng mạnh mẽ" ông nói về công cụ ưa thích của mình, nhiều nghệ sĩ không thích cây bút này vì tính không thể thay đổi của nó. Nhưng anh ấy đã tìm thấy nó là công cụ dễ sử dụng tốt hơn.

Bosokah vẫn chưa đặt tên cho phong cách vẽ của mình, kết hợp rất nhiều đường nét và dấu chấm. Hiện tại, anh vẫn đang thử nghiệm và tin rằng mình đang trên hành trình khám phá bản thân. Bosokah là một nghệ sĩ đa năng, cũng làm việc với các vật liệu như đất sét, nhựa tổng hợp và sợi thủy tinh. Tuy vậy, anh không muốn sớm phân loại mình là một nghệ sĩ bút bi. Anh xem nghệ thuật của mình như một phần mở rộng của chính mình.

Anh là một nghệ sĩ đang lên và sắp tới vẫn đang thử nghiệm các phương tiện nghệ thuật khác nhau, tôi hy vọng sẽ có những sáng tạo khác tiếp theo trong nghệ thuật châu Phi, anh nói.

Hy vọng, anh sẽ có những thành công không khác Jonathan Kwegyir Aggrey của Ghana, Adebanji Alade của Nigeria và Ashley Oubre của Hoa Kỳ, những nghệ sĩ mà anh ngưỡng mộ.
4.12.2019
DODUYNGOC
https://youtu.be/TqZGideXi1s

XEM ẢNH ENAM BOSOKAH

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget