Articles by "Khác"

 







Sáng nay rảnh rỗi tụ tập sang nhà người bạn ở Phú Mỹ Hưng. Trong đoàn có bạn Hiếu Piano, một Pianist sừng sỏ của đất Sài Gòn. Do vậy khi vào phòng khách thấy cây đàn Piano nằm chễm chệ ở trong phòng, Hiếu thấy mình chạy đâu cho thoát, chắc chắn là phải ngồi vào đàn rồi. 

Tạm ăn sáng với croissant và fromage, Hiếu đánh đàn theo yêu cầu. Cô chủ nhà duyên dáng đề nghị La Vie en Rose, mở đầu vậy là cũng đẹp. Đây là bản tình ca bất hủ mang tính biểu tượng của nền âm nhạc Pháp, do huyền thoại âm nhạc Édith Piaf sáng tác lời và thể hiện cách đây 80 năm. 

https://youtu.be/qPU8mENUBXk?si=nm_qcTPNxEjW6bNy

Tới tui, đang buồn đời nên yêu cầu Mal, bài hát rên rỉ một thời nổi tiếng của giới trẻ miền Nam. Bài này là một ca khúc nhạc Pháp do danh ca Christophe trình bày. 

https://youtu.be/Qh8kqxwQpYg?si=t_fGTsPmgl_2DdkA

Anh bạn tui về từ Mỹ lại khoái Love Story, bài hát chính trong bộ phim kinh điển Love Story (Chuyện tình) năm 1970, do nhạc sĩ người Pháp Francis Lai soạn nhạc và phần lời tiếng Anh do Carl Sigman viết.

https://youtu.be/mCa07ujl3jM?si=6VXqRKWpan0K5-Xv

Nghe những bài hát cũ lại nhớ nhạc phim của một thời. Những bài hát trong phim nổi tiếng không khác gì phim. Khi màn hình hiện chữ Hết, ánh sáng rạp bừng lên, khán giả ra về nhưng tiếng hát, lời ca, điệu nhạc vẫn vương vấn mãi mấy chục năm sau, không quên được.

Đó là tiếng kèn, tiếng vó ngựa, tiếng súng nổ, tiếng huýt sáo trong những phim Cowboy miền Viễn Tây với những khuôn mặt khó quên. Nhắc đến phim Cowboy miền Viễn Tây (Western) là nhắc đến một thời kỳ vàng son của điện ảnh Mỹ và cả dòng phim cao bồi Ý (Spaghetti Western). Đó là các diễn viên John Wayne, là Clint Eastwood. Còn có Gary Cooper, James Stewart, Burt Lancaster, Kirk Douglas, Yul Brynner, Steve McQueen. Đặc biệt nhớ nhiều là Charles Bronson một khuôn mặt rắn rỏi, ít nói, đầy vẻ bí ẩn. Còn có Henry Fonda, Lee Van Cleef, Franco Nero, Anthony Quinn và William Holden….những gương mặt rất quen thuộc với khán giả yêu phim Viễn Tây.

Những giai điệu trong loại phim này có sức sống kỳ lạ. Sau năm , sáu chục năm rồi, có thể chỉ còn nhớ mang máng cốt truyện phim, có thể quên mất tên diễn viên. Nhưng chỉ cần nghe tiếng kèn Harmonica, tiếng guitar điện, tiếng huýt sáo, tiếng ngựa phi lọc cọc, người ta hình dung những người hùng trên lưng ngựa với chiếc nón rộng vành, khẩu súng bên hông hay cầm tay cô độc trên con đường đầy bụi, hoàng hôn đỏ rực và những cuộc đấu súng rút ra khỏi bao nhanh như chớp.

Mỗi lần nghe những đoạn nhạc này, tôi hình dung lại tuổi thanh niên, thời của những đắm say và nhiều khát vọng . Thời gian đã trôi đi, râu tóc từ xanh đến bạc trắng, giai điệu vẫn còn mãi và người càng lúc càng già đi nhưng không quên được những giai điệu tuyệt vời của ký ức.

https://youtu.be/XnzLIdvaPBU?si=Cd8zlPFS3rb15fk_

Chưa hết, còn nhạc trong phim Doctor Zhivago. Phim được chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết nổi tiếng cùng tên năm 1957 của nhà văn Nga Boris Pasternak với diễn viên Omar Sharif (vai Bác sĩ Yuri Zhivago) và Julie Christie (vai Lara Antipova). Bản nhạc "Lara's Theme" (La Chanson de Lara) do Maurice Jarre sáng tác đã trở thành một trong những giai điệu bất hủ của âm nhạc điện ảnh thế giới.

https://youtu.be/gzEEB8MeD0c?si=1ogPllxojy8OS-Wq

Và Romeo and Juliet: Nino Rota viết một giai điệu có vẻ đẹp cổ điển, vừa tha thiết vừa dự báo bi kịch. Sau đó, A Time for Us trở thành ca khúc được nhiều giọng hát nổi tiếng trình bày.

https://youtu.be/4FHpmn-KYec?si=1-WpSpLqfGqsYz1X

Đến phim Bố Già (Godfather), chen nhau mua vé, tìm sách với bản dịch của Ngọc Thứ Lang về đọc. Một bản dịch mang hơi hám, giọng điệu của thế giới Mafia. Bản dịch tuyệt vời. Và bản nhạc nổi tiếng nhất là "Speak Softly Love" do Nino Rota soạn nhạc và Larry Kusik viết lời.

https://youtu.be/AJgE_dLWsuQ?si=SIỈmWhRBRpXTUqhE 

Phim Cầu sông Kwai là bản "The River Kwai March" kết hợp với giai điệu huýt sáo của bản hành khúc "Colonel Bogey March". Tác phẩm này được soạn bởi nhạc sĩ người Anh Malcolm Arnold.

https://youtu.be/CB8F8g1-4Uw?si=q-Yt9ToôpyiQp44E

Cũng không quên phim Casablanca. Nhạc Ca khúc chính thức trong phim: "As Time Goes By" Phần nhạc nền (score) xuất sắc của phim do nhạc sĩ lừng danh Max Steiner biên soạn, nhưng linh hồn âm nhạc của bộ phim lại là ca khúc "As Time Goes By" (sáng tác bởi Herman Hupfeld từ năm 1931)

https://youtu.be/-RFqGOzk25w?si=hZjprJYPXgeMsucp

Và còn nhiều, nhiều lắm mà tuổi già quên gần hết rồi. Nhớ chừng đó thôi cũng cảm thấy đủ. Khuya rồi, ngủ đây.

17.10.2026

DODUYNGOC

 


Đi ăn trưa với đồng bọn, tình cờ gặp Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc ở quán Đo Đo. Hai người họ Đỗ cùng tên Ngọc này có nhiều “ân oán”. Trước đây có nhiều bài viết của tui trên Facebook bị lan truyền khá rộng trên không gian mạng với cái tên BS Đỗ Hồng Ngọc, lại kèm theo chân dung của vị Bác sĩ đáng kính này. Tôi đã nhiều lần viết bài đính chính cũng như đề nghị không lan truyền bài viết nữa vì không muốn làm phiền và hiểu lầm không có lợi cho anh. Nhưng lâu lâu bài vẫn xuất hiện và đôi lúc vẫn còn ghi tên BS Đỗ Hồng Ngọc. Rầu ghê! Gặp nhau rất mừng thấy BS Đỗ Hồng Ngọc vẫn khoẻ mạnh dù đã đến tuổi 86. Tôi nhỏ hơn đúng 10 tuổi mà thấy rệu rã rồi.

 


Không ngờ một kẻ lông bông, tào lao, ba trợn như tui mà lại có duyên với Phật Pháp. Chuyện là hai vợ chồng cậu em người bạn thân từ Mỹ về đi lễ chùa, thấy trong chùa có sách ấn tống: tức là sách Phật tử in cúng cho chùa, in truyện ngắn Bước không qua số phận của tui. Ngạc nhiên vì từ xưa đến nay, người ta thường in Kinh Nhật tụng, Kinh Cầu an, Cầu siêu cúng chùa chứ bao giờ lại in truyện ngắn làm sách ấn tống. Lại nghĩ tui viết truyện này có nói gì về Đạo Phật đâu? Cậu em hỏi khi in như thế này có trao đổi gì với tui không? Tui bảo chẳng biết gì mà cũng chẳng nghe ai nói gì. Thôi thì viết truyện ngày nay mà có người đọc là tốt rồi, chẳng thắc mắc mần chi. Bởi tui đâu có kiếm cơm bằng văn chương đâu, băn khoăn làm chi cho mệt người. Chỉ hơi rầu một chút là cái tựa truyện bị đổi thành Khó vượt qua số phận. Lại ghi thêm là hồi ký của tui. Tầm bậy! Đây chỉ là truyện, nhiều phần là sự thật nhưng cũng có nhiều hư cấu. Người đọc nghĩ là hồi ký lại bảo tui này nọ, không vui. Nghe thêm cách đây mấy năm, Sư cô Tâm Tâm, là giảng sư thường đi thuyết pháp, pháp thoại ở các chùa và trường học Phật Giáo có dùng truyện này làm đề tài thuyết pháp. Không biết nói sao vì tui cứ nghĩ mình là kẻ hoang đàng, giờ truyện lại được ấn tống và giảng pháp tại chùa. Vinh hạnh cũng có một chút nhưng cảm thấy hổ thẹn nhiều hơn.

https://youtu.be/veCJqcoKjrk?si=0VY3UhnG5vDQG_eL

 





Với chủ đề LIFE OF TREES , Nhiếp ảnh gia Hoàng Thế Nhiệm đang tổ chức triển lãm ảnh tại 224 Space từ ngày 10.10.2026.

Với những người cầm máy ở Việt Nam, Hoàng Thế Nhiệm là cái tên quen thuộc và được mọi người yêu kính và trân trọng. Tên của anh cũng có vị trí ở nước ngoài qua những cuộc triển lãm ngoài nước.

Lần triển lãm này gồm 32 ảnh đen trắng, theo anh để đánh dấu 32 năm cầm máy của anh. Đã từ lâu anh được mọi người tôn vinh là “Vua phong cảnh”, nhưng lần này phong cảnh của anh mang một hình thái mới, biểu hiện mới. 

Phát biểu trong buổi khai mạc, anh cho biết anh đang thực hiện dự án về Ngũ hành: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Hành trình đầu tiên là Mộc. Cho nên 32 ảnh đang triển lãm, bức nào cũng có cây.

32 bức ảnh có một phong cách nhất quán mang một chủ đích nghệ thuật rõ rệt khác hẳn những cuộc triển lãm của nhiều nghệ sĩ khác trước đây ở Việt Nam.

Điều đặc biệt ở đây không phải là kỹ thuật chụp ảnh mà cách nhìn thiên nhiên mang ý nghĩa triết lý đàng sau những gốc cây, cành cây, thân cây ấy. Đó là những gốc cây đã chết, những cành cây đã khô nhưng những dấu vết của sự sống vẫn tiếp tục, vẫn tiếp nối giữa không gian hoang vắng.

Trước đây, phong cảnh trong ảnh của Hoàng Thế Nhiệm là những cảnh đẹp có địa chỉ, là những trời mây, cây cỏ, núi rừng, non nước của những địa danh nổi tiếng. Giờ đây 32 bức ảnh trong triển lãm này không xác định địa danh, bởi điều đó với tác giả là không cần thiết nữa bởi điều tác giả muốn thể hiện ở tác phẩm là những vấn đề triết lý sâu xa hơn của nhiếp ảnh hiện đại. Cũng cây, cũng đất, cũng rừng, cũng thấp thoáng cành hoa nhưng không phải những hàng cây xanh tươi, những khu rừng sum suê hay cảnh thiên nhiên đẹp theo nghĩa thông thường.

Đó là những thân cây khẳng khiu, những gốc cây chết, những nhánh cây trơ trụi, những cây nhỏ đứng một mình giữa núi đá, cát, nước và bầu trời được đặt trong không gian rất rộng khiến chúng trở nên bé nhỏ, mong manh. Và do vậy cây không còn là đối tượng mà trở thành một hình tượng mang nhiều ý nghĩa. Người xem nếu chịu khó suy nghĩ sẽ thấy cây trong ảnh như thân phận con người, có sinh thành và hủy diệt, từ diệt rồi sinh như luân hồi của kiếp người trong triết lý của Phật Giáo. Con người luôn băn khoăn về lẽ tử sinh. Tác phẩm của Nhiệm đang đề cập về nỗi băn khoăn đó.

Cây đang sống, cây đã chết khô, cây đang chống chọi và có cây chỉ còn là dấu tích. Nhưng tất cả dù đã chết vẫn chưa biến mất, nó vẫn còn tồn tại. Đàng sau cái chết là sự sống tiếp nối hồi sinh hay ngược lại sinh ra rồi để chết.

Điều này khiến người xem nghĩ rằng tác giả đang sử dụng cây như một ẩn dụ về thân phận, sự chịu đựng, sự mất mát và sức sống của con người.

Ta hãy xem bức ảnh mô tả cành cây nhỏ bên hàng rào đổ nát trên cát. Đây là một bức ảnh có ngôn ngữ tạo hình rất mạnh. Những thanh gỗ nghiêng đổ, những sợi dây thép gai và các đường gợn trên mặt cát tạo nên một hệ thống đường chéo và đường cong. Giữa cấu trúc khô cứng ấy lại xuất hiện một cành cây nhỏ có lá sáng. Ta thấy có một sự đối lập rất đẹp giữa sự sống và tàn phá, giữa mềm mại và thô ráp. Ta có thể suy nghĩ rộng hơn đến chiến tranh, đến sự cắt chia hay những giới hạn chia lìa do con người tạo ra. Có thể đó không phải là suy nghĩ của tác giả khi bấm máy nhưng bức ảnh gợi lên trong lòng người xem.

Bức ảnh nữa cũng thu hút là bức mô tả đám mây trắng lớn tạo hình khối mạnh trong ảnh. Đây là một bố cục rất tiết chế: một thân cây nhỏ mọc nghiêng bên sườn đá chơi vơi, một khối mây. Thoạt nhìn không có gì đặc biệt nhưng nhìn kỹ ta thấy cây rất nhỏ, mong manh và đám mây chiếm hết phần lớn mặt tranh. Sự tương phản về kích thước tạo nên một quan hệ thị giác thú vị đó là sự đối lập giữa cái nhỏ bé đối diện với cái mênh mông. Bức này gợi tinh thần hội họa thủy mặc phương Đông, nơi khoảng không đôi khi có sức biểu đạt mạnh hơn chính đối tượng được vẽ. Đó chính là sự tối giản của hình thể để đạt đến ý niệm.

Một bức có phong cách tối giản nữa hiệu quả thị giác rất cao ghi lại những tán cây sáng nổi bật trên nền trời tối, bên dưới là mặt nước phẳng lặng. Một khúc gỗ chết ở tiền cảnh tạo ra sự đối ứng với những cây còn sống ở phía xa. Đó là một bố cục có tính suy tưởng. Tác giả lại để một khoảng nước tối rất lớn ở nửa dưới khung hình tạo sự sâu lắng nhiều suy tư.

Bức ảnh với gốc cây chết ở tiền cảnh và cây đang xanh phía xa là một ví dụ về sinh và diệt. Gốc cây chết được đặt rất lớn, chiếm gần hết phần dưới bức ảnh. Con mắt người xem đi theo dòng đá và gỗ khô để tới thân cây đứng cô đơn ở cuối chân trời. Bố cục đó diễn tả một hành trình từ mất mát đến tồn tại.

Bàn thêm một chút về kỹ thuật ta thấy tác giả có cảm quan rất tốt về sắc độ. Những bức ảnh không chỉ đơn giản là loại bỏ màu sắc. Chúng sử dụng tương phản sáng tối để xây dựng không khí cho ảnh. Bầu trời thường có sắc xám trung gian, mây sáng mạnh, còn mặt đất, thân cây và mặt nước được đẩy xuống những vùng tối sâu. Một số ảnh có sử dụng kỹ thuật phơi sáng dài, nhất là ở mặt nước, tạo cảm giác thời gian ngưng đọng. Đặc biệt, những tán lá trắng nổi bật trên nền đen khiến liên tưởng đến hiệu quả của ảnh hồng ngoại, hoặc cách xử lý sắc độ tương tự.

Điều cần nhấn mạnh là đen trắng ở đây không chỉ là lựa chọn thẩm mỹ mà còn là một cách loại bỏ những thông tin không cần thiết để tập trung vào hình khối và cảm xúc để tạo suy niệm cho người xem.

Chủ đề của cuộc triển lãm này là LIFE OF TREES : ĐỜI SỐNG CỦA CÂY. Nói theo tác giả là MỘC. Trong triết học Ngũ hành phương Đông, Mộc không chỉ tượng trưng cho cây cối mà còn gắn với sự sinh trưởng, phát triển, vươn lên và khả năng thích ứng.

Mộc là sự sống trong quá trình vận động, chứ không chỉ là một vật thể của thiên nhiên.

Trong 32 tác phẩm trong cuộc triển lãm này đã phần nào thể hiện ý nghĩa đó.

Hoàng Thế Nhiệm không chủ yếu tìm kiếm những thân cây xanh tốt, mà dường như đặc biệt quan tâm đến cây khô, cây chết, những thân cây bị thiên nhiên bào mòn và những hình hài còn sót lại.

Nếu Mộc tượng trưng cho sự sống, thì tác giả lại thường tiếp cận sự sống từ phía bên kia của nó: sự tàn phai, mất mát và khả năng tồn tại sau những biến động.

Đây cũng là một cách diễn giải khá thú vị về Mộc.

Từ những suy nghĩ trên, không thể xếp những tác phẩm này vào loại nhiếp ảnh phong cảnh thuần túy.

Nhiếp ảnh phong cảnh thông thường thường hướng tới vẻ đẹp của địa hình, ánh sáng, thời tiết và không gian.

Ở đây, phong cảnh dường như chỉ là phương tiện để diễn đạt một tâm trạng. Tác giả không mô tả cảnh đẹp thông thường mà tìm kiếm một thế giới thị giác riêng mang khuynh hướng triết học. Cảnh vật như cái cớ để nói về sự sống, cái chết, thời gian và sự tồn tại. 

Những thân cây khô không tự kể chuyện cô độc. Những gốc cây mục không tự nói về cái chết. Chính người nghệ sĩ, bằng lựa chọn góc nhìn, ánh sáng và bố cục, đã khiến chúng mang tâm trạng của con người. Hoàng Thế Nhiệm đã làm được điều đó bằng tác phẩm của mình.

Thật ra việc tổ chức bố cục, khả năng sử dụng khoảng trống và sự tương phản sắc độ. Việc sử dụng cây cô độc, bầu trời rộng, ánh sáng tương phản và không gian tĩnh lặng cũng có sự gần gũi với mỹ học nhiếp ảnh phong cảnh đen trắng quốc tế. Trước đây những nghệ sĩ như Ansel Adams hay Michael Kenna đã sử dụng thiên nhiên và ngôn ngữ đen trắng để tạo nên những tác phẩm có sức biểu cảm rất mạnh. Tuy nhiên, ảnh của Hoàng Thế Nhiệm vẫn có sáng tạo và ý nghĩa của riêng anh.

Trong MỘC, Hoàng Thế Nhiệm không chỉ chụp những cái cây. Anh chụp những dấu vết mà thời gian để lại trên sự sống. Ở đó, cái chết không hoàn toàn đối lập với sự sống, mà trở thành một phần của chu trình sinh thành và hủy diệt.

Người xem đánh giá cao Hoàng Thế Nhiệm ở khả năng phát hiện vẻ đẹp của những đối tượng tưởng như không còn gì đáng ngắm nhìn.

Một thân cây chết, một cành khô hay một gốc mục có thể trở thành một tác phẩm nghệ thuật khi được đặt đúng trong tương quan ánh sáng, không gian và thời gian. Và từ đó ta hiểu thêm rằng, vấn đề không phải chụp cái gì mà quan trọng là bức ảnh muốn nói lên điều gì? Và những nội dung của bức ảnh có bật lên đuợc những điều ta muốn gởi gắm không? Có mang dấu ấn riêng của người sáng tác.

Chúc mừng triển lãm của Nhiệm. Chúc mừng thành công bước đầu trong dự án ngũ hành. Khó chứ không dễ. Tương sinh ngũ hành Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, và Thủy sinh Mộc. Thể hiện cho được ngũ hành và tương sinh là một dự án dài hơi và nhiều công sức. Đó là một thử thách nghệ thuật lớn. Nhưng với khả năng kỹ thuật, với tư duy sáng tạo mới, với mong mỏi thể hiện triết lý qua ảnh, tin rằng Hoàng Thế Nhiệm sẽ có nhiều thành công nối tiếp.

Sài Gòn 12.10.26

DODUYNGOC



 Hôm nay có cô học trò cách đây hơn 42 năm, trước khi bay về Việt Nam gởi cho tôi một tấm hình lúc tôi làm chủ nhiệm lớp12A6 (1983-1984). Nhìn hình cũng còn nhớ một số khuôn mặt của một thời. Giờ có lẽ gặp nhau giữa phố chắc chẳng nhận ra nhau. Mấy cô cậu đó đã tròm trèm 60 cả rồi và mình đã vào lứa cuối U80. Nhìn hình tôi còn không nhận ra tôi. Mà nghĩ cũng lạ, nhìn hình mới nhớ là học trò thời đó chẳng có mấy người mang kính cận. Sao giờ người trẻ kể cả trẻ con bị cận thị nhiều quá?

Thời gian mau thật! Biết bao biến cố, biết bao đổi thay. Nhớ một thời dù nghèo mà vui. Hồi đấy học sinh chẳng áo dài, không đồng phục, sống đơn giản mà nhiều tình. Cơm ăn không đủ no, chỉ bo bo với bột mì cần chi áo quần cho đẹp. Thầy Cô giáo phần đông đi xe đạp, dạy trên lầu mà nghe nhu yếu phẩm về là lòng nôn nao. Trang phục Thầy giáo cũng giản dị, áo chemise quần tây, chẳng cà vạt, giày da trang trọng như bây giờ. Nay nhà trường sao màu mè, cờ quạt quá. Sang thì có vẻ sang nhưng không thấy hay.

 


Chiều Sài Gòn mưa. Mưa khá lớn, tự nhiên thèm một tô cháo lòng nóng hổi. Thèm thì đi ngay thôi, Bác sĩ bảo lớn tuổi rồi, thích gì thì cứ ăn, không nên kiêng quá và cũng đừng ăn nhiều, đừng ăn thường xuyên là được. Dù quán không xa nhà lắm nhưng cũng gọi taxi, mưa quá xá mà. Ngồi trên xe nhìn qua kiếng thấy cảnh vật, con người nhoè dưới mưa.

Đến nơi, chỉ băng qua lề đường vào quán đã thấy người ướt và lành lạnh. Thế này mà húp muỗng cháo nóng thì còn gì bằng. Nghĩ vậy mà lại không phải vậy. Cháo rất nóng, dĩa gan và dồi chiên nhìn cũng hấp dẫn nhưng sao ăn vào thấy nhạt nhẽo quá. Không dám gọi sụn họng với phèo vì răng không nhai được. Cháo cũng nhạt mà lòng cũng chẳng ngon. Dồi chiên không vàng, ruột dồi cứng không béo. Còn đâu miếng dồi chiên ngày xưa, còn đâu miếng gan bùi bùi ngày cũ. Hay là tại miệng mình không còn cảm được vị ngon? Cô chủ ngày trước không thấy, mấy cậu giúp việc cũng lạ hoắc. Chắc đổi chủ rồi, tên vẫn còn đó nhưng chất lượng, mùi vị đã khác. Người mới không kế thừa được. Rất nhiều quán ăn như thế dù tồn tại qua mấy đời và bảy tám chục năm có mặt.

Thường thì tôi không thích ăn huyết, nhưng hôm nay ăn thử. Miếng huyết mềm, bở trong khoang miệng. Cũng không ngon.

Chấp nhận cơn mưa để mong ăn được tô cháo lòng một thời mà thất vọng quá. Đường đông nghẹt xe, quán lại vắng. Chờ taxi hơn nửa tiếng, tài xế đến nơi lại giục ra mau vì sợ công an phạt. Ăn không ngon mà lòng cũng chẳng vui. Nhớ trong cuốn sách Ăn mà không chơi in cách đây 4 năm, có viết về món cháo lòng. Sao hồi đó ăn thấy ngon thế?

6.10.26

DODUYNGOC




 

Lại mưa trưa. Sài Gòn tháng 10 mưa tầm tã. Những con đường ngập nước lênh láng, những con người lướt thướt dưới mưa. Đã có tuổi, không còn thú lang thang dầm mưa, không còn dám ra đường để ghé một hàng hiên nào đó đốt thuốc nhìn mưa. Lại nhớ buổi trưa hôm nào của tuổi hai mươi cách đây hơn năm mươi năm bên cửa sổ căn gác trọ với nụ hôn đầu của một cuộc tình. Tất cả đang qua đi và một mình đang ở lại. Không đi đâu nên để cho hết một ngày đành nằm nhà xem phim và nghe mưa trên mái hiên.

Tìm thấy một phim cũ đã xem cách đây hơn mười năm, giờ xem lại trên YouTube lại vỡ ra nhiều suy nghĩ khác. 

Đó là phim Perfume: The Story of a Murderer . Được dịch là Mùi hương: Câu chuyện về một kẻ sát nhân. Hay gọi tắt là Mùi hương (Perfume). Đây là một bộ phim rất đặc biệt, một phim nhiều ấn tượng và nhiều cảm xúc, dù đã xem nhiều năm rồi vẫn tràn ngập cảm giác ám ảnh của nó.

Là một phim với nội dung kỳ lạ, không giống các kịch bản phim thông thường. Được chuyển thể từ tiểu thuyết nổi tiếng Das Parfum (Perfume) xuất bản năm 1985 của nhà văn Đức Patrick Süskind. Nội dung phim rất khó để chuyển thành phim ảnh vì nhân vật chính và toàn bộ xoay quanh mùi hương, thứ chỉ cảm nhận bằng khứu giác, không dễ để biến thành hình ảnh để có thể chuyển đến khán giả. Nhưng đạo diễn người Đức Tom Tykwer đã làm được và thực hiện rất thành công tạo được cảm xúc đến người xem. Phim ra đời với sự hợp tác của ba nước Đức, Pháp, Tây Ban Nha, ra mắt năm 2006. Phim nói tiếng Anh và dài khoảng 147 phút. 

Nhân vật chính Jean-Baptiste Grenouille do Ben Whishaw đóng. Là nhân vật khác người, gầy gò, ít nói, ngây ngô và luôn lạnh nhạt tách biệt với mọi người. Dustin Hoffman diễn viên gạo cội trong vai Giuseppe Baldini: nhà chế tạo nước hoa, cũng là người phát hiện khả năng thiên phú, kỳ lạ của Grenouille. Ngoài ra còn có Alan Rickman trong vai Antoine Richis và Rachel Hurd-Wood trong vai Laura Richis. 

Câu chuyện diễn ra ở nước Pháp thế kỷ XVIII. Nhân vật Jean-Baptiste Grenouille sinh ra và lớn lên trong sình lầy, dưới đáy xã hội, một khu hôi thối tanh tưởi của khu chợ cá. Anh ta có khả năng đặc biệt là khứu giác nhạy bén trước những mùi hương. Grenouille có thể nhận ra mùi hương mà không ai có thể nhận biết. Lúc mới lớn, anh tình cờ ngửi được mùi hương của cô gái trẻ bán hàng rong trái cây. Anh nhận ra đó là mùi hương tuyệt nhất anh từng ngửi qua. Grenouille vô tình khiến cho cô gái thiệt mạng. Anh lại phát hiện mùi hương tuyệt diệu đó sẽ biến mất khỏi cơ thể khi người ấy qua đời. Phát hiện đó hình thành nỗi ám ảnh quyết định cả cuộc đời Grenouille là làm sao giữ lại một mùi hương mãi mãi?

Lúc ấy, Baldini là một nhà chế tạo nước hoa nổi tiếng, bằng khả năng về mùi hương của mình, Grenouille được nhận vào xưởng làm việc và ở đó anh chứng minh mình là thiên tài khi chế ra nhiều loại nước hoa mà trước đó chưa ai làm được. Đến lúc đó, anh ta nhớ lại mùi hương của cô gái bán trái cây và anh muốn chiết xuất và lưu giữ mùi hương của con người, đặc biệt là hương thơm của những cô gái trẻ. Với tham vọng đó, Grenouille trở thành kẻ sát nhân hàng loạt. Nhiều cô trẻ đã trở thành nạn nhân của anh để anh có thể thu giữ mùi hương của họ biến thành một loại nước hoa đặc biệt chưa từng có. Và vùng Grasse trở thành hỗn loạn khi nhiều cô gái lần lượt biến mất. Trong vùng có một cô gái rất xinh đẹp tên là Laura, con gái của Antoine Richis, một người giàu có. Ông ta lo sợ có ngày sẽ đến lượt con mình nên đem con đi trốn. Nhưng Laura lúc này là đối tượng tiếp theo của Grenouille cho nên bằng khứu giác tinh nhạy của mình anh theo dõi và bắt được Laura. Với Laura, anh ta đã chế hoàn thành một loại nước hoa kỳ lạ , anh toại nguyện vì đã đạt được khát vọng.

Nhưng người ta đã phát hiện anh là thủ phạm giết người. Anh bị bắt, bị kết án và đưa ra pháp trường xử tử.

Khi Grenouille bị đưa ra pháp trường trước một đám đông đang căm phẫn và chờ xem anh bị hành hình. Grenouille hiện lên nhỏ bé, gầy gò, gần như bất lực giữa biển người đang gào thét đòi giết mình. Thế rồi anh vẩy những giọt nước hoa, thứ nước hoa yêu thương và tha thứ. Mùi hương đó đã khiến thái độ của cả đám đông thay đổi hoàn toàn. Họ không còn nhìn thấy một tên sát nhân. Họ nhìn Grenouille như một sinh vật tuyệt đẹp, đáng yêu, gần như thiêng liêng. Cơn căm thù tập thể biến thành một trạng thái mê đắm và yêu thương cuồng nhiệt. Đây là một trong những trường đoạn kỳ lạ và nổi tiếng nhất của phim. Đó cũng là một bi kịch Grenouille đã tạo được thứ có thể khiến mọi người yêu mình, nhưng chính anh ta lại không có khả năng yêu một con người. 

Grenouille được tha và trở về Paris, nơi anh đã được sinh ra. Anh đổ toàn bộ phần nước hoa còn lại lên cơ thể. Những người xung quanh bị mùi hương mê hoặc đến mức lao vào anh trong một cơn cuồng loạn và Grenouille biến mất khỏi thế giới theo một cách vừa khủng khiếp vừa ghê rợn. Đó là một kết cuộc buồn.

Phải công nhận tài năng của 

đạo diễn Tom Tykwer, ông phải kể một câu chuyện về mùi hương, một thứ chỉ cảm nhận được bằng mũi trong khi điện ảnh chỉ có ánh sáng, hình ảnh và âm thanh. Nhưng qua cách kể và diễn xuất của diễn viên, khán giả vẫn cảm được mùi của chợ cá, của da thịt và đặc biệt mùi của nước hoa.

Xem xong phim, bỗng dưng tôi liên tưởng đến những bộ phim của đạo diễn người Hàn Quốc: Kim Ki-Duk. Thật ra hai người này có rất nhiều khác biệt. Một người ở phương Tây và một người ở trời Đông. Quan niệm cũng khác nhau. Nhưng cả hai đều có khả năng tạo ra những bộ phim mà câu chuyện không đi theo lối thông thường và hình ảnh tiếp tục ám ảnh người xem sau khi phim đã hết.

Kim Ki-Duk là một trường hợp rất đặc biệt của điện ảnh Hàn Quốc. Tuy thế, người xem phim ở nước ông rất ít người biết đến ông dù ông đạt nhiều giải quốc tế như phim Samaritan Girl đem về giải Đạo diễn tại Berlin; 3-Iron đem về giải Đạo diễn tại Venice; và Pietà đoạt Sư tử vàng Venice 2012. Phim của ông phần lớn là rất dữ dội, gây tranh cãi, không phải loại điện ảnh đại chúng. Cũng giống thị trường phim ảnh ở Việt Nam, rất nhiều phim chọc cười rẻ tiền, kịch bản hời hợt, đạo diễn non tay nhưng thường thắng lớn và được giới xem phim bình dân tán thưởng. Trong khi đó những đạo diễn làm phim sâu sắc, tài năng, đạt nhiều giải thưởng nước ngoài thì chẳng mấy người biết đến và khi đem chiếu ở thị trường thường lỗ trắng tay, xuất chiếu vắng tanh.

Kim Ki-Duk được đào tạo để trở thành hoạ sĩ, ông từng học mỹ thuật tại Montpellier (Pháp). Nhưng khi về nước, ông chọn làm nghề đạo diễn. Trong đại dịch Covid toàn cầu, ông qua đời tại Riga, Latvia khi mới 59 tuổi, do biến chứng của COVID-19. 

Ông làm khoảng 25 phim, trong đó có 10 phim đáng xem nhất: Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring (2003), Xuân, Hạ, Thu, Đông… rồi lại Xuân. 3-Iron (2004), Căn nhà trống. Pietà (2012). The Isle (2000), Hòn đảo. Samaritan Girl (2004) Cô gái Samaritan. Bad Guy (2001), Gã tồi. The Bow (2005), Cây cung. Breath (2007)Hơi thở. Address Unknown (2001) Địa chỉ không xác định. Arirang (2011).

Trong danh sách này có 3 phim Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring thể hiện phía thiền định, nhân quả và chu kỳ đời người, 3-Iron thể hiện tài kể chuyện bằng im lặng và hình ảnh, còn Pietà là sự tàn nhẫn, tội lỗi, tình mẫu tử và chuộc tội của thế giới Kim Ki-duk.

Tôi xem phim Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring rất nhiều lần và nghĩ rằng phim rất đáng xem nếu ai quan tâm đến Phật giáo và thiền.

Cho đến giờ sau 23 năm bộ phim ra đời, theo tôi Phim Spring, Summer, Fall, Winter… and Spring là tác phẩm cô đọng rõ nhất thế giới điện ảnh của Kim Ki-duk. Bối cảnh chỉ có một ngôi chùa nhỏ bé nổi giữa hồ, khung cảnh tuyệt đẹp qua bốn mùa của đất trời, một nhà sư già, một chú tiểu và bốn mùa tuần hoàn. Hạn chế lời thoại, nhưng cả một đời người được kể qua xuân, hạ, thu, đông rồi lại xuân. Qua tiến trình của bộ phim, con người cứ tưởng mình đang đi về phía trước, nhưng nhiều khi lại quay về đúng nơi mình đã bắt đầu. Từ một chú tiểu vô tư, hồn nhiên làm chuyện ác tiến dần vì dục vọng, tình yêu, chiếm hữu, tội lỗi, trừng phạt, tu tập và cuối cùng một thế hệ khác tiếp tục tuần hoàn như bốn mùa của trời đất. Trong khi đó, cái hồ vẫn vậy, ngôi chùa vẫn vậy, chỉ con người sinh ra, phạm lỗi, đau khổ rồi tan biến để một thế hệ khác tiếp nối, luân hồi.

Xem Xuân, Hạ, Thu, Đông… rồi Xuân tôi nghĩ phim không chỉ kể lại cốt truyện, mà có thể đi từng mùa để giải mã những biểu tượng rất đẹp: con cá, con ếch, con rắn, hòn đá buộc vào người, cánh cửa không có tường, chiếc thuyền, mặt hồ và pho tượng Phật trên đỉnh núi. Khi đọc những biểu tượng ấy theo tinh thần Phật giáo, bộ phim sâu hơn rất nhiều so với câu chuyện nhìn thấy trên màn ảnh.

Tuy Perfume và phim của Kim Ki-Duk không giống nhau về phong cách, nhưng chúng có một điểm gặp nhau khá thú vị, đó là đều khiến người xem bước vào một thế giới có logic riêng, hơi xa lạ với cách kể chuyện điện ảnh thông thường.

Với Kim Ki-Duk, những quan điểm của Phật giáo như nghiệp, dục vọng, vô thanh, sự cô đơn , chu kỳ sinh diệt được trình bày chúng theo một cách rất khác. Nhân vật ít nói, đôi khi gần như không nói, hành động có lúc cực đoan, nhiều tình tiết không được giải thích mà chỉ được đặt trước mắt người xem như một biểu tượng. Khi xem phim ta có cảm giác đang xem một câu chuyện rất Thiền nhưng cách Kim Ki-Duk kể lại không giống phim Phật giáo hay phim luân lý quen thuộc. Ông không giảng rằng đây là nghiệp, đây là tham ái, đây là quả báo. Ông chỉ cho đứa trẻ buộc đá vào cá, ếch và rắn; rồi vị sư già buộc một hòn đá vào lưng nó. Không cần diễn giải dài dòng, người xem tự cảm thấy sức nặng của hành động mình gây ra cho một sinh vật khác.

Một biểu tượng nữa cũng mang phong cách của Kim Ki-Duk là cánh cửa trong ngôi chùa nhưng hai bên cửa lại không có tường. Về vật lý, người ta hoàn toàn có thể bước vòng qua. Nhưng các nhân vật vẫn đi qua cửa. Một vật rất đơn giản bỗng trở thành hình ảnh gợi suy nghĩ về giới hạn, kỷ luật và những cánh cửa do chính con người đặt ra trong tâm thức.

Liên tưởng của tôi từ Perfume sang Kim Ki-Duk, theo tôi đó là sự liên tưởng rất tự nhiên. Tom Tykwer làm cho chúng ta cảm thấy một mùi hương mà màn ảnh không thể truyền tải. Kim Ki-Duk lại khiến chúng ta nghe thấy những điều sâu xa mà nhân vật không cần phải nói.

Có lẽ đó là phẩm chất chung của những bộ phim lạ mà hay. Sau khi câu chuyện kết thúc, bộ phim vẫn chưa kết thúc trong đầu người xem.

Sài Gòn vẫn mãi mưa. Một ngày lại sắp trôi qua. Một ngày sẽ không bao giờ lặp lại nữa, nhưng những bộ phim hay vẫn còn đó. Mãi mãi.


Saigon. 

Chủ nhật 4.10.2026

DODUYNGOC






Trước năm 1975 và hơn chục năm sau đó, các rạp chiếu phim ở miền Nam đều có người chuyên vẽ panneau để giới thiệu phim đang chiếu. Riêng ở Sài Gòn trước 1975, theo thống kê chưa đầy đủ đã có khoảng 75 rạp chiếu phim. Ngoài những rạp lớn như Rex, Eden, Quốc Tế, Lê Lợi, Vĩnh Lợi, Khải Hoàn, Thăng Long hay những rạp ở Đakao, Bà Chiểu, Chợ Lớn… thuê riêng người vẽ, các rạp nhỏ hơn thuê từng phim một, hoặc hợp đồng với người vẽ vẽ thêm cho rạp mình.

Vẽ panneau cho phim không phải ai biết vẽ là vẽ được. Đó là một loại hội họa đặc biệt, từ quen tay, qua quá trình rèn luyện mà thành chứ không có trường lớp nào dạy cả. Hồi mới vào Sài Gòn những năm đầu 70 của thế kỷ trước. Đời sống khó khăn của một thanh niên không có ai trợ cấp, phải kiếm việc vừa làm vừa đi học. Cứ nghĩ bản thân cũng có thời gian học mỹ thuật, vẽ panneau chắc cũng không khó nên xin vào rạp vẽ panneau phim. Đó là thất bại đầu đời của tôi. Lâu nay quen với khung bố nhỏ, cọ nhỏ, sơn dầu, màu nước. Giờ đứng trước khung vải rộng mấy thước, cây cọ nào cũng to đùng. Có cái như cái chổi, cái nhỏ nhất cũng lớn hơn cả bàn tay. Chất liệu là bột màu với a dao hôi kinh khủng. Lúc đấy mới thấy mình bất tài. Trong khi người thợ chính vung cọ vun vút, tôi chỉ biết đứng ngó. 

Không phải cứ học qua mỹ thuật, biết hình họa, biết vẽ chân dung, biết chọn lựa màu sắc là có thể vẽ được. Vẽ tranh, người hoạ sĩ có nhiều thời gian suy tưởng, định hình phong cách cho tác phẩm. Vẽ panneau xi nê khác hoàn toàn, bề mặt tranh lớn, đường cọ phải nhanh nhưng bắt buộc phải giống nhân vật. Thần sắc, bố cục, màu mè phải tác động đến thị giác của người qua đường. Trên diện tích khổng lồ, chỉ cần sai một chút về tỷ lệ, khuôn mặt quen thuộc của một minh tinh có thể trở thành một người hoàn toàn khác. Và như thế panneau đó thất bại.

Vẽ tranh đường nét tỉ mỉ, nét cọ tinh tế. Panneau là vẽ từng mảng, người vẽ chỉ phác sơ nét chính, sau đó là múa cọ. Đứng gần chỉ thấy khối, bệt màu lẫn lộn, nhưng nhìn từ xa chân dung khuôn mặt tài tử hiện rõ với những đặc điểm không lẫn vào đâu được. Panneau xi nê đứng ở khoảng giữa hội họa chân dung, minh họa, quảng cáo và nghệ thuật sân khấu.

Và tôi đã thất bại khi vừa bước vào nghề. Sau đó, nhờ hiền lành, dễ thương, chịu khó học hỏi, thấy rõ hạn chế của mình, các tiền bối cho phép tôi kẻ chữ vì tôi viết chữ khá đẹp he…he. Những năm cuối thập niên 90, Sở Văn Hoá kết hợp với Nhà Nghệ thuật Quần chúng TP, chiếu video bán vé. Hồi đó màn hình 100 inches mà người ta chen nhau mua vé đông nghẹt xem Võ Tắc Thiên và Bao Công. Tôi lại làm công việc giới thiệu phim nhưng không vẽ mà chỉ viết tên phim. Cũng một loại panneau nhưng chẳng có chút nghệ thuật nào. Cũng a dao, bột màu như xưa nhưng không vẽ hình. Kiếm tiền nuôi vợ con trong thời buổi khó khăn thôi.

Hồi bé ở Đà Nẵng, tôi cũng mê xem phim. Nhưng thú thật các rạp ở Đà Nẵng không có người vẽ đẹp. Những rạp Lido, Kinh Đô và nhiều rạp khác nữa ở thành phố đó không gây cho tôi chút ấn tượng nào.

Có thời ra Huế học. Huế thời đó có mấy rạp chiếu phim: Rạp Châu Tinh trên đường Chi Lăng (Khu vực Gia Hội). Rạp Hoàn Mỹ cũng nằm trên đường Chi Lăng. Rạp Hưng Đạo lớn với chỗ ngồi rộng rãi và đẹp. Rạp Tân Tân trước mặt chợ Đông Ba. Trước đó còn rạp Z96 và rạp Morin. Và còn mấy rạp nhỏ nữa quên mất tiêu rồi. Ở rạp Châu Tinh có anh Lê Vinh vẽ rất đẹp, nhân vật rất có thần thái mà màu sắc cũng rất bắt mắt.

Thời thanh niên, nhiều diễn viên, tài tử nổi tiếng đóng phim được chiếu ở các rạp miền Nam. Tôi mê mẩn trước những panneau vẽ họ đến nhập tâm những đường nét, đặc điểm của từng nhân vật. Đó là Paul Newman với đôi mắt xanh. Gregory Peck điềm đạm. Yul Brynner cái đầu cạo trọc không thể lẫn với ai. Steve McQueen lạnh lùng. Anthony Quinn thô ráp, dữ dội mà đầy sức sống. Omar Sharif với ánh mắt buồn của Doctor Zhivago. Rồi Alain Delon, một vẻ đẹp gần như hoàn hảo nhưng nhìn hơi nữ tính. Còn có Charles Bronson: nhân vật rất đàn ông. Ông không đẹp theo cách Alain Delon. Khuôn mặt ông gân guốc, xương xẩu. Đôi mắt nhỏ, ít cười. Ông có vẻ như chẳng cần nói gì nhiều nhưng hành động diễn xuất của ông thu phục trái tim người thanh niên có mộng giang hồ.

Trong The Magnificent Seven, người Sài Gòn quen gọi Bảy tay súng oai hùng, Bronson đứng bên cạnh một dàn tài tử mà chỉ cần kể tên cũng đủ làm sống lại cả một thời: Yul Brynner, Steve McQueen, James Coburn, Robert Vaughn, Horst Buchhol, đến những phim hài của Louis de Funès, Anthony Quinn và “Giờ thứ 25” rổi Ryan O’Neal và Ali MacGraw trong phim Love Story. Những diễn viên Pháp như Jean Gabin, Jean Marais, Bourvil, Jean-Paul Belmondo, Alain Delon, Brigitte Bardot, Jeanne Moreau, Catherine Deneuve, Romy Schneider…

Và đặc biệt Once Upon a Time in the West.Trong bộ phim ấy lại có Charles Bronson. Đó là người đàn ông lạnh lùng bí ẩn với cây kèn harmonica. Đã hơn 60 năm rồi, trong tôi tiếng kèn đó vẫn còn vang trong ký ức và hình Charles Bronson trên tấm panneau vẫn còn mãi trong mắt.

Đến khi phim võ hiệp Hồng Kông, Đài Loan tràn ngập các rạp. Những tên tuổi mới của Châu Á xuất hiện, đó là Vương Vũ. Trịnh Phối Phối. Khương Đại Vệ. Địch Long. Nhạc Hoa. La Liệt…Loại phim này hấp dẫn người xem. Không còn súng nổ, ngựa phi, không còn những mối tình lãng mạn. Những phim của hãng Shaw Brothers đưa người xem vào một thế giới của ân oán, môn phái, huynh đệ, báo thù, những quán rượu ven đường và những kiếm khách cô độc. 

Và Lý Tiểu Long. Võ thuật trên phim thay đổi. Panneau giới thiệu phim cũng thay đổi. Thay vì súng là gươm đao, thay vì ngựa phi là phi thân, vũ khi là quyền cước, là chưởng, là thế đòn. Panneau thay đổi trang phục và nét mặt nhân vật. Người vẽ panneau cũng theo trào lưu.

Rồi thời thế đổi thay, những panneau vẽ tay dần dần biến mất nhường chỗ cho những poster in bằng kỹ thuật số. Dĩ vãng trôi đi, ký ức tồn đọng một thời của những panneau xi nê nặng mùi a dao trên khung bố chồng nhiều lớp sơn. Nhớ lại những panneau thời ấy như một triển lãm hội hoạ ngoài trời được thay đổi theo từng bộ phim. Tôi nghĩ đó cũng là một loại hình nghệ thuật. Tuy không lớn lao, tác giả cũng không ký tên, không lưu giữ. Hết phim người ta dùng bàn chải chùi rửa và vẽ nội dung một phim mới. Tác phẩm được xoá đi, người tạo ra nó cũng bị lãng quên.

Không có ai nghĩ những panneau quảng cáo phim lại là những di sản một thời. Đến khi những tấm quảng cáo phim vẽ tay ấy không còn nữa chúng ta mới tiếc nuối một loại hình mỹ thuật đường phố đã biến mất.

Nhưng ở Ấn Độ, vẫn còn những người giữ nghề vẽ panneau xi nê. Họ không vẽ cho rạp chiếu phim, họ hình thành một thị trường chuyên phục hồi vẽ affiche, panneau bằng tay, thường là những phim của Bollywood ngày xưa. Họ vẽ và bán cho người sưu tập, những người tìm lại cảm giác điện ảnh xưa. Giá cũng không hề rẻ.

Tiêu biểu là họa sĩ Kafeel Ahmed Ansari, ông đã hơn tuổi 70, ở khu Old Delhi. The Indian Express vừa có bài tháng 6. 2026 về ông, gọi ông là một trong những người đang gìn giữ nghề vẽ Bollywood hoarding và poster bằng tay khi kỹ thuật in kỹ thuật số đã khiến cả một thế hệ họa sĩ loại này gần như mất nghề. Ông vẫn vẽ bằng tay, theo phương pháp của những người thợ quảng cáo cinéma ngày trước. Ông cũng nhận đặt hàng theo phim xưa và cũng có thể vẽ chân dung người đặt hàng trong bối cảnh của những phim cũ. Và cũng theo báo, ông làm ăn có vẻ khấm khá. Ở Mumbai cũng có Indian Hippy⁠, thành lập từ năm 2009 với mục đích tập hợp một số họa sĩ vẽ panneau phim. Và đã có hàng ngàn đơn đặt hàng. Rất tiếc ở Việt Nam ta không có loại hình đó để nhiều người nhớ lại một thời đã qua đi không trở lại.

Hôm nay Sài Gòn mưa. Mưa cả tuần nay. Nước ngập lênh láng mọi ngả đường. Có một lão già U80 ngồi xem phim trên Netflix, trên YouTube. Xem đến phim của mấy anh Tàu làm bằng công nghệ AI. Chợt nhớ những phim cũ cách đây mấy chục năm. Nhớ đến ngày thất bại khi bắt đầu xin vào vẽ panneau. Nhớ rất nhiều diễn viên tài danh của một thời không còn nữa, nhớ những người thợ vẽ dạy những nhát cọ đầu tiên trên khung vải rộng mênh mông. Thời gian đi nhanh quá! Nhớ lúc tóc còn xanh vụng về với đống bột màu, nhớ những đêm thức trắng học vẽ với những người nghệ sĩ vô danh. Đa số họ đều nghèo với đàn con. Mong sẽ gặp lại ở đâu đó dấu vết của người xưa, tàn tích còn sót lại tấm panneau của một thời. Tất cả chỉ là ký ức.

Saigon. 2.10.2026

DODUYNGOC

Đến hôm nay là tròn đúng một tháng tui ở ẩn. Ở ẩn quanh quẩn trên chiếc giường vì bị cứng cơ lưng chứ không phải ẩn tu. Bởi tui không có căn tu, còn là phàm nhân, không đi tu nên làm gì có chuyện ẩn tu. Lý do là vì bịnh nên chẳng đi đâu được. Trong khoảng thời gian ấy, có một lần chống gậy đi họp mặt bạn bè mừng một người bạn từ xa về, ngồi gần hai tiếng về cái lưng đau nặng hơn nên sợ quá, cắm trại trăm phần trăm luôn. Nằm suốt tháng nhưng chẳng viết được chữ nào dù ngoài kia đang lắm chuyện xảy ra làm rung động cả xã hội và lòng cũng ngổn ngang trăm mối.

Thật ra cái lưng bắt đầu đau từ đầu tháng 4, âm ỉ thôi. Tui bị gout nên uống khá nhiều thuốc giảm đau nên rất sợ ảnh hưởng đến thận. Thấy đau lưng là lo nên đến bịnh viện Tâm Anh khám và xét nghiệm. Bác sĩ xem kết quả bảo thận chú còn rất tốt như tuổi năm mươi. Nghe cũng mừng, bớt một mối lo liền rủ người em thường gắn bó với tui qua nhiều chuyến đi ra Đà Nẵng chơi kết hợp gặp gỡ bạn bè thời trung học nhân ngày hội trường thường niên. Cận ngày, vé máy bay hiếm mà giá cao quá nên quyết định đi xe lửa. Đi rồi mới thấy đó là chọn lựa sai lầm. Thời gian đó chưa xuất hiện toa tàu du lịch Sài Gòn-Đà Nẵng như bây giờ nên chuyến đi có nhiều điều không vừa ý. Phòng thì cũng được nhưng phục vụ kém, căn tin bụi bặm, trang bị nghèo nàn và xập xệ, phòng vệ sinh chật hẹp và cáu bẩn, những chiếc xe bán hàng rao như thời bao cấp. Lại thêm cuộc hành trình kéo dài 18 tiếng đồng hồ lắc lư theo bánh xe nghiến trên đường tàu xình xịch chán ngắt. Đến nơi cái lưng lại đau nặng thêm nên đành trả vé tàu mua vé máy bay để trở vào dù giá quá xá đắt.

Về lại Sài Gòn được mấy tuần thì một đêm sau khi ngủ dậy tui không đứng lên được, cơ lưng đau như bị vọp bẻ, không chịu nổi. Khẩn cấp chạy vào Tâm Anh. Nhân viên bảo đau thế này không thể chờ khám được mà phải vào cấp cứu. Thế là vào cấp cứu. Trước tiên là phải đóng tiền, đương nhiên phải thế thôi. Sau đó là một loạt xét nghiệm, siêu âm, chụp hình, MRI... Riêng cái khoản MRI, tay bác sĩ trẻ báo 2 giá, nếu chờ chiều có kết quả thì hơn 3 triệu, nếu muốn có kết quả ngay thì hơn 4 triệu. Báo là thế nhưng anh ta khuyên nên chọn giá cao cho nhanh. Tui nói vừa xét nghiệm tuần trước cũng chính ở bịnh viện này nhưng người ta trả lời là chỉ cần ba ngày có thể kết quả đã thay đổi rồi nên cần xét nghiệm lại. Thì thôi, cũng đành chi tiền thôi. Tổng chi phí gần 9 triệu đồng. 

Đến trưa thì tất cả đã có kết quả. Hai ba ông bác sĩ xem và bàn với nhau gọi là hội chẩn. Tay bác sĩ trẻ thông báo với tui là nghi có một loại virus nào đấy xâm nhập vào hệ thống cột sống của tui gây đau. Anh gợi ý đến bốn, năm lần là phải nằm viện khoảng ba tuần để xem con virus ấy là gì hầu có phác đồ điều trị. Anh ta ra giá luôn là ba tuần chi phí là 170 triệu chưa tính tiền phòng. Tui thấy hơi sai sai về cái vụ virus và thấy hơi khó chịu với vụ đề nghị nằm lại với giá cao như thế. Tui bực mình đề nghị xin về, anh ta lại khuyên tui nên ở lại chữa trị vài lần nữa nhưng tui cương quyết đòi về. Thế là anh ta bắt tui ký một cái giấy với nội dung BS đề nghị nội trú nhưng bịnh nhân đòi về nên bịnh viện hoàn toàn không chịu trách nhiệm. Nghĩ cũng lạ, bịnh tuy đau nhưng bảo là không nguy hiểm tính mạng sao về phải ký giấy cam đoan. Doạ người yếu bóng vía đến thế cơ à? Vào bịnh viện mới thấy người khó khăn dính bịnh là không cách gì xoay xở. Khâu nào cũng tiền, cái khẩu trang, bình diệt khuẩn, cái bao tay của y tá, bác sĩ xử dụng cũng tính thành tiền bắt người bịnh trả. Tốt nhất là đừng để phải vào chốn ấy. Nhưng cuộc đời mà, sinh lão bịnh tử, bịnh như một quy luật khó tránh nên vào viện người ta tha hồ thu tiền mà chẳng thấy cảm thông khó khăn của người bịnh và bịnh nhân cũng chẳng bao giờ dám kêu ca, trả giá.

Về nhà, lê lết trên giường, nghĩ nhiều chuyện. Từ chuyện nhân tình thế thái đến chuyện phận số. Những thước phim của những đoạn đời được nhớ lại, nghĩ về những người đã qua cuộc đời mình và giờ nằm cô độc ở đây. Chờ đợi một lời thăm hỏi, một tin nhắn để lấy đó làm an ủi. Xem lại nhiều hình ảnh để nhớ về một thuở nào đó trong cuộc đời. Quẩn quanh với nhiều ý nghĩ. Nhìn ra những điều tốt đẹp của một người đầu trần chân đất đang đi trên con đường thiên lý. Nghiệm ra những luẩn quẩn của một kiếp nhân sinh. Cố lạc quan nhưng toàn bi quan trong ý nghĩ. Cố nén những cơn đau nhưng nó vẫn hiện diện ở thân thể, cũng đành chấp nhận thôi. Vui còn chia cho người, đau làm sao để sẻ cho ai?

Hằng ngày vẫn có thầy thuốc ở Bệnh viện Y học Dân tộc đến châm cứu, chạy điện, bó thuốc, thuỷ châm. Đã qua một tháng, lưng đau đã có phần thuyên giảm, mong sẽ trở lại bình thường để gặp gỡ bạn bè, để viết vài trang tào lao cho cuộc đời thêm tươi. Rất mong.

Bài viết này như là để trả lời mọi người cứ thắc mắc sao lâu rồi không thấy tui viết gì. Cảm ơn những tin nhắn, những lời thăm hỏi của bạn bè, những người thân quen và của những người tuy chưa gặp mặt nhưng có quan tâm đến tui. Xin cảm ơn.

Sài Gòn 7.6.2024

DODUYNGOC






Hôm nay giỗ Mạ. Đã 15 năm chúng con không còn Mạ. Ba đi trước mấy năm, Mạ đi sau và chúng con trở thành những đứa con mồ côi từ đó. Anh em bây giờ đi bốn phương trời, ngày giỗ chỉ còn mấy đứa. 

Ngày Mạ mất, tôi vừa qua cơn đại phẫu lần thứ ba ở bệnh viện Pháp Việt. Mổ lúc 14:00, gần 17:00 mới tỉnh đang nằm phòng hậu phẫu thì nghe tin Mạ mất lúc 20:00. Thời kỳ Mạ yếu nằm ở BV Tâm Đức, tôi cũng lâm trọng bệnh phải mổ lần đầu ở BV Ung Bướu nên ít thăm Mạ, Mạ trách nhưng tôi dấu không dám nói thật mình bệnh sợ Mạ lo nên đành để Mạ buồn, Mạ giận. Mạ mất, tôi dứt khoát đòi xuất viện dù vừa xong cuộc giải phẫu. Cô Bác sĩ người Pháp mổ cho tôi đành chịu ký giấy cho tôi về nhưng cứ dặn đi dặn lại là phải cách xa người mất, không được lại gần rất nguy hiểm vì dễ nhiễm trùng vết thương. Thế là tôi về nhưng không được nhìn mặt Mạ lần cuối, chỉ đứng xa mà nhìn với dòng nước mắt. Chắc Mạ cũng sẽ thương mà thứ lỗi cho tôi. 

Thời gian cuối đời, Mạ cứ muốn về lại làng Lệ Thuỷ, Quảng Bình, quê của Mạ. Nhưng làm sao đi được khi Mạ đã yếu rồi. Mạ nhớ quê nhà đã xa cách mấy chục năm. Như một lời báo trước, Mạ muốn nhìn quê nhà lần cuối trong đời.

Khi Mạ già Mạ rất khó tánh dù bình thường Mạ cũng khó rồi. Vì vậy nhiều lúc chúng con không làm vừa ý Mạ, Mạ hờn, Mạ trách, Mạ buồn. Những lần giỗ Mạ, tôi tự trách mình có nhiều lần không làm theo ý Mạ.

Giờ Mạ đã được nằm cạnh Ba với anh Hai. Giờ Mạ đã ở trên kia rồi, hay đã đầu thai kiếp khác. Các con vẫn luôn nhớ thương Mạ, vẫn nhớ giọng nói, tiếng cười và thân hình phốp pháp khi tuổi già của Mạ. Vẫn nhớ dáng Mạ trong gian bếp nấu những món ăn ngon cho đàn con hơn chục đứa thời chúng con còn bé. Vẫn nhớ những giọt mồ hôi của Mạ ngồi làm mứt bánh lúc chúng con vừa lớn. Vẫn nhớ không thể nào quên hình ảnh Mạ với chiếc áo dài nhung, chỗi hạt ngọc đeo ở cổ trong những ngày lễ Tết. Giờ con đã là lão già hơn tuổi bảy mươi, cứ nhớ Mạ là muốn khóc. Mỗi lần tôi hát bài Mẹ tôi của nhạc sĩ Trần Tiến, lần nào cũng chảy nước mắt vì nhớ Mạ.

Chiều nay con đốt nén nhang, vái lạy trước khung hình của Mạ và thầm gọi Mạ ơi!

23.4.2024

DODUYNGOC


Ba giờ sáng, không ngủ được, ngồi dậy mở máy vào messenger mục tin nhắn đang chờ xoá bớt tin nhắn, thấy một tin của một người lạ: "Bảo đây. Tìm mày gần 50 năm. Hello Ngọc Nhà Đèn...Tao biết mày không thích cái tên này nhưng vẫn gọi vì tao chỉ nhớ đến cái tính ngông của mày." Ngọc Nhà Đèn, cái nick name này ở đâu ra ta? Tôi nghĩ hoài không ra. Bảo nào? Tôi có nhiều người bạn tên Bảo. Vào Facebook của người này. Nhìn hình lạ hoắc, không gợi khuôn mặt thân quen nào, bèn trả lời:"Xin lỗi bạn, chắc bạn nhầm tôi với ai rồi." Bên kia nhắn lại ngay:"Tôi có người bạn cùng tên, trước học ở ĐHVH phân khoa GD....tất cả giống bạn? Xin lỗi nếu đã nhầm. Cảm ơn bạn đã trả lời." Lại suy nghĩ, nếu học Giáo Dục Vạn Hạnh thì chắc là người có thể không quen nhưng phải biết. Nên viết nhắn lại:" Bạn học Vạn Hạnh khoá nào và phân khoa gì? Tôi cũng có bạn tên Bảo học khoa Sử Địa người Nha Trang". Nhắn thế thôi chứ tôi chưa nghĩ đến người bạn cũ tên Bảo, lâu nay tôi vẫn cố tìm. Trả lời:"Thêm vài chi tiết nữa, may ra bạn nhớ? Cái bức tranh vẽ vội đã nuôi bạn lúc đói mèm vào thời điểm đó. Đúng rồi, tôi đấy. Người đã cùng trọ với Vinh,người DN." Trong lòng tôi vỡ oà niềm vui, đúng là người bạn cũ đây rồi. Tôi nhanh chóng nhắn tiếp:" Trời ơi sao bây giờ khác thế. Bảo người gốc Quảng Bình và nhà ở Nha Trang". Nhắn lại:"Hình như có lần bạn ghé NT ,tụi mình ra biển ngắm sao đêm? Nhớ quá ngày ấy...bác Trần Đới, Bùi Giáng...". Thế rồi hai thằng nối điện thoại nói chuyện với nhau hơn tiếng đồng hồ đến khi trời ửng sáng, nhắc đủ thứ chuyện của hơn 50 năm trước.

Hơn năm mươi năm trước, tôi là thằng sinh viên nghèo từ Đà Nẵng vào Sài Gòn đi học. Vì nhiều lý do khó kể ra, tôi vào Sài Gòn mà không có ai trợ cấp, sống như đứa con hoang. Rất nhiều hôm đói, rất nhiều ngày đói. Lâu lâu có bài đăng báo có được chút tiền còm. Rồi vẽ biểu ngữ, bán tranh, viết thông báo cho trường, thiết kế sân khấu cho Đoàn Văn nghệ Sinh viên Vạn Hạnh do anh Phạm Thế Mỹ làm trưởng đoàn. Thu nhập rất bấp bênh. Túi thường rỗng và bụng rất nhiều lần đói. Không nhớ sao lại có tiền thuê nhà ở hẻm 108 Trần Quang Diệu, căn nhà trống trải chẳng bàn ghế, không giường chiếu có một căn gác lửng bằng gỗ và ngoài sân có cây mận đầy sâu. Từ đường vào nhiều con hẻm ngoằn ngoèo mới đến nhà nằm gần con kinh nước đen. Tôi ở chung với hắn, Trần Ngọc Bảo và mấy người bạn nữa. Hắn cũng vốn gốc Quảng Bình và cũng dân di cư như tôi. Gia đình hắn ở Nha Trang, bố là Trung tá quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Hắn được gia đình tiếp tế hàng tháng, dù không nhiều vì sĩ quan hồi đấy sống nhờ lương lại đông con. Tuy vậy hắn còn khá hơn tôi vì đầu tháng có tiền để ăn học. Hắn thuộc tuýp người hiền lành, không đua đòi ăn chơi nên hợp với tôi, một thằng nghèo rớt mồng tơi ăn còn kiếm không ra lấy gì mà chơi. Hắn để tóc kiểu Beatles, mốt thịnh hành của thanh niên thời ấy, hai mắt to, tròn lúc nào cũng ngơ ngác và khuôn mặt dài. Hắn học cùng phân khoa Giáo Dục, Đại học Vạn Hạnh với tôi nhưng ban Sử Địa còn tôi ban Việt Hán. Hai thằng thường đi học chung với nhau. Đi bộ qua những con hẻm hẹp loanh quanh ra đến đường Trương Minh Giảng. Những lần tôi không có tiền ăn cơm, tôi ăn ké khay cơm của hắn. Hồi đó trường Đại học có câu lạc bộ sinh viên, bán phiếu cơm với giá rẻ cho sinh viên. Mỗi phần ăn gồm một khay có mấy ngăn, ngăn cơm, ngăn canh và ngăn món mặn thường là đậu hủ với vài miếng thịt bạc nhạc hay nửa khúc cá kho. Đồ ăn theo tiêu chuẩn nhưng cơm thì không hạn chế. Hắn mua phiếu, ngồi ăn hết cơm và thức ăn, thay vì mang khay vào trả thì hắn sẽ đứng lên và tôi thay vào chỗ hắn, mang khay vào lấy thêm cơm ra ăn với trái chuối hay chút nước mắm. Nhờ chiêu đó, tôi qua được những cơn đói ngặt nghèo.

Ở chung còn có lão thi sĩ Trần Đới, người có khuôn mặt và hàm râu giống nhà văn Nga nổi tiếng Mikhaylovich Dostoyevsky. Lão cũng là kẻ lang thang, suốt ngày làm thơ và ôm cái đàn mandolin gảy những hợp âm lộn xộn.

Lâu lâu cũng có nhóm bạn âm hồn của tôi ghé vào, toàn là dân biệt kích, không quân lái máy bay chiến đấu đi bỏ bom về và cũng không thiếu vài tay du đãng. Mỗi lần đám đó tụ hội là râm ran, bày đủ trò phá phách nhưng tôi và hắn không bao giờ tham gia. Có một lần tay bạn du đãng của tôi lúc ấy đang dính với một em me Mỹ. Thằng chồng Mỹ của ả đi hành quân, ả và tay giang hồ bạn tôi dọn sạch sành sanh đồ đạc trong nhà mang qua gởi nơi tụi tôi ở trọ. Tôi sợ quá năn nỉ chúng dọn đi gấp. Lần đó MP của Mỹ tìm vào xóm, may mà không phát hiện được gì vì đã chuyển đi trước đó. Hú hồn!

Ở chung cũng có người hoạt động Việt Cộng. Tụi tôi biết nhưng việc ai nấy làm, đời ai nấy sống, hồn ai nấy giữ nên cũng chẳng quan tâm. Sau 75 người này làm việc bên Sở Văn Hoá Thành phố.

Ở chung với nhau một thời gian thì tan hàng, mỗi đứa một phương. Trải qua bao nhiêu biến cố và đổi thay của thời cuộc cùng đời sống của mỗi người nên chẳng liên lạc gì với nhau. Nhất là sau 75, tan hàng, rã đám tôi và hắn bặt tin nhau. Tôi đôi khi cũng hỏi thăm về hắn nhưng chẳng ai biết. Tôi nghĩ chắc hắn di tản hay vượt biên rồi vì gia đình hắn ở Nha Trang sát biển và bố hắn lại là sĩ quan cao cấp VNCH. Giờ gặp lại hắn cho biết là trong những ngày cuối của cuộc chiến, hắn được lùa đi với đám lính Đại Hàn nên rời Việt Nam rất sớm. Bố hắn kẹt lại đi cải tạo mấy năm.

Giờ hắn định cư ở Úc, đã có chắt rồi và hắn bảo hắn tìm tôi hơn 50 năm nay giờ mới gặp qua Facebook. Cũng cảm ơn Facebook, nhờ nó mà chúng tôi lại tìm được nhau sau bao thăng trầm, biến đổi. Thằng nào cũng đã quá tuổi bảy mươi, nằm nhắc lại những kỷ niệm, ký ức lại tràn về. Nhìn lại những năm tháng của một thời, khó khăn nhưng vui, rất vui và nhiều khát vọng ở tương lai. Bây giờ chân đã run, sức đã yếu, sự nghiệp cũng chẳng có gì, những ký ức của ngày tháng cũ tràn về, vẫn nhớ như in những bước chân trong những con hẻm nhỏ, ngôi nhà trống trải, những bữa cơm ở câu lạc bộ sinh viên. Thời gian đi mau quá, chớp mắt đã hơn nửa thế kỷ rồi. Chúc bạn ta và cũng tự chúc mình có sức khỏe và niềm vui với tuổi già. Hy vọng có ngày gặp lại nhau.

6.2.2024

DODUYNGOC 


Hồi còn bé, tôi rất mong ngày Tết. Không phải vì Tết có nhiều món ăn ngon, cũng không phải vì những bộ áo quần mới, cũng chẳng phải Tết có được thêm tiền lì xì. Tôi mong Tết vì cái mùi của Tết. Cái mùi mà bây giờ lên hàng lão tôi khó tìm thấy đủ như những ngày xưa.

Trời đất, thiên nhiên bốn mùa đều có mùi của mùa. Mùa xuân có mùi của cây non trổ lộc, mùi của hương hoa. Mùa hạ có mùi của nắng, mùi của mồ hôi, mùi gió biển và mùi cá khô phơi tràn bãi cát. Mùa thu có mùi của lá vàng, của gió thu lướt trong không khí, mùi của nắng vàng mật ngọt. Mùa đông có mùi của bếp lửa, của bắp nướng, của chén khoai khô ngào đường và mùi của những cơn gió cắt da. Nó còn cái mùi của những chiếc áo ấm cất lâu trong tủ mang ra còn vương mùi long não. Mùi của Tết khác hẳn, nó không phải là mùi của bốn mùa gộp lại mà nó có mùi rất riêng. Tôi gọi đó là MÙI CỦA TẾT. Mùi này một năm chỉ có một thời gian rất ngắn rồi phai đi chờ đến Tết năm sau.


Trước hết, trong tôi là mùi của hoa. Đó là mùi hăng hắc độc đáo và nồng nàn của những chậu hoa vạn thọ mà Ba tôi rất thích bày khắp sân mỗi dịp Tết về. Những chậu hoa với những bông vàng rực, sáng cả một góc sân. Đó là hương của những cành hoa huệ trắng Mạ ưa cắm trong chiếc bình bằng đồng được đánh bóng sáng ngời đặt trên bàn thờ. Ngay phòng khách mùi hoa lay ơn đỏ Mạ cắm đặt ở bàn salon cũng có mùi nhè nhẹ. Đó là mùi thơm thoang thoảng của những chậu lan khoe sắc trên giàn ở bìa sân do nhiều người biếu Ba trong dịp Tết. Đó cũng là mùi thơm rất mỏng từ chậu mai vàng nhiều cánh nở bung được đặt trang trọng ở giữa nhà. Tất cả hương của những thứ hoa bàng bạc trong nhà báo hiệu đã cận Tết rồi.

Mùi của Tết còn là mùi của nhang, trầm khiến cho căn nhà ấm lại trong cái lạnh đầu xuân. Mùi nhang khói như sợi dây nối liền những người đã khuất với những người đang sống. Mùi để nhớ về, mùi của những cuộc đoàn viên. Cháu con thắp lên cây nhang, đốt lên ánh nến, mẩu trầm rồi vái lạy trước bàn thờ, trước di ảnh của ông bà, cha mẹ. Cái mùi nhang khói ấy theo mãi suốt một đời người.

Đó còn là mùi thơm của thau mứt gừng, mứt dừa, mứt bí, mứt khoai, mứt me Mạ làm. Cái mùi cháy của đường phảng phất mùi va ni cuốn hút thằng bé chực chờ được vét thau. Cái mùi và miếng mứt hơi cháy ở đáy thau theo thằng bé đi suốt cho đến tuổi già. Giờ không mấy nhà tự làm mứt nữa, tiệm, siêu thị bán đầy, chẳng mấy ai mất công ngồi đổ mồ hôi bên bếp lửa. Mạ tôi mất hai chục năm rồi, tôi không còn được thưởng thức món mứt của Mạ và cũng chẳng còn được nhìn dáng Mạ chảy mồ hôi bên nhiều thau mứt nữa. Bóng Mạ vẫn về trong ký ức mỗi độ Tết đến, xuân về.

Tết còn có mùi của các loại bánh in. Ngày xưa Mạ làm đủ loại bánh gói trong những loại giấy bóng màu. Mùi của bánh thơm thơm hương bưởi, hương va ni, mùi của bột. Tất cả đặt trong những chiếc khay gỗ quý khảm xà cừ. Nó còn là mùi của những chén chè đậu xanh, chè khoai tím xếp từng dãy trên bàn. Còn mùi bánh chưng trong thùng sôi sùng sục đêm giao thừa, nó có thoảng nhẹ của mùi nếp chín, mùi của lá chín và mùi chi nữa không tả được và cũng chẳng quên được.

Còn mùi của thịt heo luộc, thịt heo ngày xưa luộc chín có mùi thơm của thịt mà bây giờ khó tìm thấy nữa. Thịt luộc chín ăn đã ngon, ngâm vào nước mắm lại càng ngon. Ngâm đến khi thịt biến màu sẫm, mỡ trong màu hổ phách. Lúc đấy miếng thịt heo ngâm nước mắm lại mang mùi khác. Không phải mùi của thịt jambon, thịt nguội mà là mùi đúng chất Việt Nam bởi nó thấm đẫm mùi nước mắm Việt qua tay chế biến của người phụ nữ Việt. Cũng phải kể đến mùi của món bắp bò ngâm nước mắm nữa. Và cũng không quên tảng thịt heo quay thơm lạ lùng với những mảng da dòn tan. Đó là chưa kể đến mùi thơm của những đòn chả nóng, xâu nem chua, những cây tré đượm mùi riềng.

Rồi đến mùi hăng hăng của kiệu. Phơi một nắng, kiệu bỏ vào lọ giấm lại có mùi khác. Thêm mùi của dưa món, ngâm chín tới mà ăn với bánh chưng, bánh tét mới thấy hết cái ngon của dưa món. Một sự hoà điệu tuyệt vời.

Nó còn là mùi của những bếp than hồng đỏ lửa trên đó có nồi thịt kho tàu với trứng, trên đó có nồi cá kho thơm phức mùi nghệ, trên đó có mùi cá nướng, cá chiên chuẩn bị bữa cúng rước ông bà.

À còn mùi của những loại rau. Rau thơm miền Trung nhỏ lá nhưng thơm hơn nhiều vùng lá to mà tinh dầu kém. Món chi ăn cũng có rau kèm, ngày Tết ăn nhiều dầu mỡ lại càng cần rau.

Ngày xưa còn có mùi pháo. Mùi mang âm hưởng Tết nhiều nhất. Nghe mùi pháo là biết Tết đã tới rất gần. Đêm Giao thừa, trong khoảnh khắc giao thoa giữa cái cũ và cái mới, trong không gian thiêng liêng, mùi pháo, tiếng pháo báo hiệu Tết tới, thể hiện không khí rộn ràng của một năm mới, đón chào những thành công mới. Chỉ tiếc giờ đây Tết không còn pháo. Không tiếng nổ của pháo nên mùi của Tết thiếu đi một nửa khi không còn mùi pháo. Đứa bé ngày xưa chỉ giữ mãi hình ảnh những phong pháo nổ dòn và cậu bé hân hoan lượm pháo lép trong mùi nồng nặc của khói pháo. Tội nghiệp những đứa trẻ được sinh ra và lớn lên khi Tết không còn pháo. Trong ký ức của chúng không có mùi của pháo. Không được nghe những tiếng nổ giòn giã và xác pháo hồng ngập sân.

Mùi của giấy tiền, vàng mã cũng là mùi của Tết dù ngày giỗ chạp cũng thường đốt loại này. Nhưng ngày Tết thì mùi này có khác hơn, đượm mùi thiêng liêng, trân trọng hơn. Lại nhớ Ba mỗi lần đốt vàng
mã, Ba bắt phải đốt cháy hết thành tro, Ba bảo không thể cúng cho ông bà áo quần, tiền vàng rách vì chưa cháy hết.

Cuối cùng là mùi của những dĩa trái cây, mỗi loại trái có một mùi riêng, tổng hợp lại thành mùi hoa quả ngày Tết đến.

Mùi của Tết là sự tổng hoà của nhiều mùi mà chỉ có ngày Tết mới có. Nó không chỉ là mùi của những vật phầm. Nó còn là mùi thiêng liêng đi theo suốt quãng đời của mỗi người. Có thể mỗi gia đình, mỗi dòng tộc có mùi Tết riêng nhưng tựu trung mùi của Tết là mùi khó quên nhưng giờ khó tìm cho đầy đủ cái mùi ấy như những ngày xưa cũ.

Chẳng còn bao ngày nữa lại đến Tết. Nhắc mùi của Tết lại nhớ Ba, nhớ Mạ, nhớ những người đã mất quá chừng. Nỗi nhớ trào nước mắt.

DODUYNGOC

Tháng 12.2006, lần thứ ba tôi đến Mỹ. Lần đầu tiên đến Mỹ năm trước đó, tôi gặp lại người bạn cũ cùng học ở Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn. Anh bạn ở một mình trong một Appartement khu Fullerton, California. Một căn nhà chỉ có một phòng ngủ và cái bếp nhỏ. Tôi thích ở đó vì được tự do hút thuốc, tự do ăn mặc, khỏi phải giữ kẽ và chào hỏi ai dù phải trải nệm ngủ dưới đất. Lần này cũng thế, tôi chọn về căn phòng của anh thay vì đến nhà cô em hay những người bạn khác có nhiều tiện nghi hơn. Lúc này mùa đông nên anh đưa tôi một máy sưởi nhỏ do vậy dù nằm dưới sàn cũng không đến nỗi lạnh lắm. 

Ở được vài hôm thì có vợ chồng người bạn ở Savannah, Georgia về Cali rủ tôi đi Santa Fe, New Mexico rồi ghé Las Vegas chơi. Sau gần tuần lễ lang thang, đêm 24.12, đêm Giáng Sinh, tôi về lại Fullerton. Vợ chồng người bạn đưa tôi về đến nơi thì căn phòng của bạn tôi đóng cửa, một mảnh giấy gài ghi là bạn tôi đi đón Giáng Sinh, vắng mặt mấy hôm. Tôi đang hoang mang chưa biết định đi về đâu, lúc ấy đã hơn 9:00 tối. Bất chợt vợ chồng người bạn có điện thoại, một người bạn của hai chúng tôi hỏi chúng tôi đang ở đâu, anh cũng đang ở Nam Cali. May quá, tôi nhờ anh bạn vừa điện thoại đến đón tôi vì vợ chồng người bạn phải ra phi trường về lại Georgia ngay trong đêm. Đứng chờ hơn tiếng đồng hồ trong gió lạnh, người bạn xuất hiện cùng với một người bạn mới. Chúng tôi đi tìm quán ăn và uống rượu nhưng hầu như các hàng quán đều đóng cửa. Phố vắng vì ở Mỹ, Giáng Sinh là dịp để mọi người cùng ở nhà vui vẻ với nhau, chứ không tuôn ra đường như ở xứ ta. 

Đêm đã khuya, những ngọn đèn từ những hang đá trước nhà dân nhấp nháy trong hoang vắng và lạnh lẽo. Tôi bảo với anh bạn nhờ kiếm cho tôi một khách sạn ngủ qua đêm. Anh bạn lái xe chạy vòng vòng vì không biết đường. Anh ta ở San Jose, Bắc Cali nên hình như không thông thuộc đường sá chốn này. Xe chạy mãi, qua nhiều ngã tư, nhiều phố vắng hoe
mà không tìm được khách sạn nào. Đã gần nửa đêm, tôi quyết định điện thoại cho anh Trí, anh của một người bạn, hy vọng kiếm chỗ ngủ qua đêm vì giờ này đến nhà người khác sẽ rất bất tiện. Anh Trí khá thân thuộc với tôi hồi còn ở Việt Nam, anh qua Mỹ diện HO sau thời gian dài học tập cải tạo. Vợ anh cũng là người dễ tính, không khách sáo nên tôi mới dám gọi cho anh lúc khuya khoắt thế này. Anh rất vui khi nhận được điện thoại của tôi, chỉ đường rất cặn kẽ. Anh bảo anh ở khu Garden Grove, gần nhà thờ kiếng nổi tiếng. Tôi báo lại với anh bạn địa chỉ, hình như anh ta cũng mù tịt nhưng cố làm ra vẻ nên bảo cứ đi, tao nhớ đường này. Thế nhưng chạy gần hai tiếng đồng hồ vẫn không tìm ra đường. Anh Trí, anh của bạn tôi cứ điện liên tục hỏi em đến đâu rồi? Tôi cũng chẳng biết đang ở đâu để trả lời anh. Xe vẫn chạy vòng vòng, hình như thời đó chưa có Google Map và GPS thì phải. Cuối cùng anh Trí chỉ dẫn chi tiết từng con phố, góc đường và bảo anh sẽ trùm áo mũ màu trắng đứng ở ngã tư đấy, ở đấy để đón chúng tôi. Thế rồi cuối cùng chúng tôi cũng nhìn thấy anh. Thương anh nửa đêm rét mướt đứng ở lề đường đón thằng em đang bơ vơ ở xứ lạ. 

Đó là lần đầu tiên tôi đón Giáng Sinh ở nước Mỹ trên hè phố lúc nửa đêm trong tâm trạng hoang mang không rượu thịt, bánh ngọt, đèn hoa.

Chỉ định ở nhờ nhà anh Trí một đêm vì nhà anh chật, cũng chỉ có hai phòng ngủ nhỏ mà nhà anh đã có đến 4 người. Hai vợ chồng anh và hai đứa con trai lớn tướng, cao lêu nghêu. Tôi ngủ ở ghế sofa nơi phòng khách. Nhưng khi điện về Việt Nam nói chuyện với người em của anh cũng là người bạn thân của tôi thì anh bạn lại báo tin cho tôi biết anh Trí vừa phát hiện ung thư thời kỳ cuối, có thể đang rất lo lắng nên khuyên tôi gắng ở lại vài hôm nói chuyện, an ủi anh cho anh bớt lo âu. Thế là tôi ở lại ba hôm, nói chuyện, tâm sự cùng anh, anh cũng không đến nỗi bi quan, anh bảo Bác sĩ đang cho anh uống loại thuốc mới thử nghiệm để chữa ung thư phổi, hy vọng lắm.

Tôi rời nhà anh đi New Hampshire thăm cô em gái và sau đó về Việt Nam trên chuyến bay trong đêm giao thừa 30.12.2006. Chuyến bay đêm cuối cùng của năm cũng có nhiều kỷ niệm khó quên. Một thời gian sau tôi nghe tin anh Trí mất, tôi ở Việt Nam không viếng tang anh được, đành chắp tay bái vọng anh từ xa. Tôi vẫn nhớ mãi hình ảnh của anh với áo khoác trùm đầu màu trắng đứng bên phố vắng rét mướt trong đêm Giáng Sinh năm ấy. Một đêm Giáng Sinh không thể nào quên và thương tiếc một người anh hiền lành, chân tình, dễ thương đã không còn ở cõi đời.

Mùa Giáng Sinh 2023

DODUYNGOC


Trước năm 75 tôi có đi dạy giờ mấy trường tư thục. Lúc ấy thầy giáo dạy từ đệ nhất cấp trở lên gọi là giáo sư. Dạy giờ là kiểu dạy hợp đồng, dạy giờ nào tính tiền giờ đó, hết niên khoá nếu dạy không đạt yêu cầu, nhà trường sẽ gởi một bức thư từ chối cho niên khoá tiếp. Nếu dạy tốt, được đánh giá cao cũng sẽ nhận thư của nhà trường trân trọng mời ông tiếp tục niên học tới có chữ ký của Hiệu trưởng cùng cái dấu đỏ.

Sau 75, chính quyền mới cho học thêm mấy tháng gọi là bồi dưỡng chính trị và kiến thức của chế độ mới ở trường Đại học Sư phạm Thành phố. Xem như là khoá đầu tiên ra trường của ĐHSP sau thống nhất. Thi xong chờ phân công. Con của "nguỵ quân, nguỵ quyền" không được nhận nhiệm sở, đành kiếm nghề khác sống. Cũng may tỉnh Bến Tre thiếu giáo viên trầm trọng nên vớt một số về cho dạy mấy trường ở vùng sâu, vùng xa. Thành phần bị nghi ngờ về tư tưởng hoặc bị gán cho tội lỗi gì đấy cũng không được đi dạy. Tôi nằm trong số đó lại thêm bị một số đoàn viên báo cáo không tốt nên đành định ra chợ trời kiếm cơm. Ơn trời, tôi có cô bạn có quan hệ mật thiết với Hiệu phó trường, nhờ vậy tôi được chiếu cố cho về Bạc Liêu. Đường về Bạc Liêu thời đó trắc trở, gian truân lắm, đi từ tờ mờ sáng đến tối mịt mới tới nơi sau khi qua không biết bao nhiêu là trạm gác. Thế nhưng Sở Giáo Dục Bạc Liêu cũng không nhận vì lý do lý lịch đen thui, cha, anh đều là "nguỵ quyền", hồ sơ lại bị nhiều phê bình ác ý. Lại thêm có anh chàng học cùng trường về trước dèm pha. Thế là khăn gói trở về sau mấy tháng đợi chờ vô vọng. 

Nhưng thế mà lại may, Sở Giáo Dục thành phố chấp nhận cho tôi về dạy trường cấp 3 Phú Hoà. Nhận quyết định, cứ nghĩ là ở Phú Thọ Hoà, tưởng không xa lắm, cũng được. Nào ngờ trường đấy nằm ở ngã tư Tân Quy, huyện Củ Chi. Hồi đấy xe cộ khó khăn, xe khách chạy bằng than, muốn lên được xe phải chen nhau qua cửa sổ. Nhiều lúc không leo lên được phải đứng ở bục gỗ sau xe, lò than nóng hừng hực, lâu lâu lại rớt ra mấy hòn than đỏ rực. Xe chỉ đến chợ Hóc Môn, đi bộ hoặc đi xe ngựa vào bến xe lam. Xe chạy qua Cầu Xáng, qua Tân Thạnh Tây mới đến trường. 

Trường nghèo, chỉ có khoảng sáu phòng học, sân trường đầy những cây bã đậu. Bảng tên trường liêu xiêu, tróc sơn nằm chơ vơ nhìn ra cánh đồng trống. Cảnh buồn hiu. Trước trường là tỉnh lộ chạy hết đường sẽ đến con sông đi qua tỉnh Bình Dương. Nhìn cảnh trường oải thiệt là oải. Mà cũng đành, thời đã thế thế thời phải thế thôi. Từ nhỏ cho đến giờ phút đó, tôi chỉ học ở các trường to, sân rộng, lầu cao, phương tiện đủ đầy. Giờ lại đến một ngôi trường với những phòng quét vôi loang lổ, bảng đen sờn hết sơn, mái lợp fibro ciment. Cửa sổ phòng học nhìn ra bãi đất ngút ngàn lộng gió. Chất độc khai hoang thời chiến tranh khiến cỏ cây xác xơ, chẳng có cây nào sống nổi. Nhìn quá nản lòng chiến sĩ. 

Trời đã về chiều, những đám nắng vàng vọt chiếu trên những đám cỏ trơ trọi khiến khung cảnh càng thêm nản lòng. Dáo dác nhìn quanh, thấy có căn phòng phía trước ngổn ngang ghế bàn. Cửa khép hờ, tôi gõ cửa. Có tiếng vọng ra: Ai đấy, vào đi. Tôi vào, phòng có mỗi chiếc bàn và lung tung đồ đạc, giấy tờ cùng chiếc máy đánh chữ. Một ông trung niên da ngăm đen, tóc hớt ngắn đang kéo thuốc lào. Ông mặc áo thun ba lỗ đã ngã màu cháo lòng và chiếc quần tây bộ đội đã cũ nhàu. Sau khi rít một hơi thật sâu, ông ngửa mặt lên trời thở ra làn khói mù mịt rồi hất hàm hỏi: Đi đâu đấy, hỏi ai? Tôi bảo: Tôi được Sở Giáo Dục phân công về đây dạy học. Cho tôi gặp Hiệu trưởng. Vừa nói, tôi vừa đưa giấy cho ông. Ông nheo mắt nhìn tôi, lại bảo: Tôi là Hiệu trưởng đây. Xem nào. Dạy môn gì? Tôi bảo: Môn Văn.  Ông nhịp nhịp bàn tay như có ý bảo tôi ngồi xuống. Thầy xếp ba lô ở đây, tối xếp mấy cái bàn ngủ rồi mai tôi bảo Hiệu phó xếp giờ cho Thầy. Tối đến thầy cô xếp bàn thành giường, mắc màn ngủ trong phòng. Lúc đó chưa có điện, đêm thắp đèn dầu, sáng ra mũi ai cũng đầy bồ hóng đen thui. 

Buổi đầu tiên trình diện để khởi đầu những năm tháng làm thầy của tôi diễn ra như thế đấy. Tôi tự nhủ, chắc gắng thời gian ngắn ở đây rồi rút thôi, làm sao mà tồn tại ở chốn này cho nổi.

Người tính không bằng trời tính, định ở đó thời gian ngắn rồi tìm cách thoát, ai ngờ ở đến năm năm. Năm năm biết bao kỷ niệm, buồn có, vui cũng không thiếu. Chính các em học trò đã níu chân tôi lại năm năm. Lúc đấy các em là học trò nhà quê, lạ lẫm với ông thầy lúc nào cũng mang giày da, áo chẽn, quần loe, tóc phủ mang tai, râu ria lún phún. Lên lớp dạy nói lớn đến nỗi cả trường nghe giảng. Trò quý Thầy và Thầy cũng thương cho hoàn cảnh của trò. 

Các em hồn nhiên và rất tình cảm, kính trọng Thầy Cô. Xem Thầy Cô như thần tượng của mình. Ngay phụ huynh các em cũng thế. Dạy được một năm tôi đưa vợ về ở luôn trong trường. Nhà trường phân cho chái nhà phên tre, mái tranh. Ngày nóng hầm hập, đêm con bọ xít bay đầy, tiếng ễnh ương kêu oàm oạp, mùa mưa lội bì bõm. Lần đầu tiên vợ tôi đi chợ Phú Hoà Đông, các bà, các cô ở chợ rủ nhau đi xem mặt vợ Thầy Ngọc, bởi vợ tôi có khuôn mặt của người ngoại quốc. Rồi các người bán hàng chẳng chịu lấy tiền, vợ tôi ngại quá từ đấy không dám ra chợ nữa, chỉ nhờ người khác mua giúp. Tình cảm của học trò thời ấy đẹp lắm, quý lắm. Đã hơn 47 năm rồi, các em ấy bây giờ đã qua tuổi sáu mươi nhưng tình thân càng ngày càng đầy chứ không hề vơi. Chính cái tình ấy khiến tôi không nỡ bỏ các em mà đi. Hơn nữa, năm 1978, tôi làm hồ sơ đi Pháp, đang chờ giấy xuất cảnh nên cũng không muốn thay đổi cuộc sống vì sẽ gặp khó khăn trong việc xử lý hồ sơ của công an và lãnh sự Pháp.

Thời kỳ đó cuộc sống vô cùng khốn khó. Lãnh lương có mấy chục đồng mà đóng tiền mua nhu yếu phẩm hết gần một nửa. Mỗi tháng mua được nửa ký thịt heo chẳng ngon lành gì. Cá thì ươn, gạo hẩm. Tiêu chuẩn 13 ký gạo mà hơn nửa là bột mì với bo bo. Thèm đủ thứ. Vợ tôi có mang con trai đầu lòng chỉ thèm miếng thịt gà mà chẳng có để ăn. Đẻ con phải làm đơn qua 4 cửa với đủ chữ ký rồi nhờ người quen giới thiệu mới mua được bốn hộp sữa bò. Bột ngọt, tiêu hột phân chia bằng muỗng. Vải, vỏ xe phải bốc thăm. Nhiều lúc nữ được quần đùi mà nam lại bốc được vải mùng vệ sinh của phụ nữ. Ban đêm mấy thầy rủ nhau đi bắt bù tọt về ăn cho có chút đạm. Ai nấy đều ốm tong teo, bụng thon, ngực lép nhưng lên lớp thì rất nhiệt tình và thương quý học trò như những đứa em, con cháu của mình. Chính cái tình ấy đã giúp cho rất nhiều thầy cô từ thành phố về vẫn đứng trên bục giảng suốt mấy năm.

Rời trường đấy sau năm năm để đổi về thành phố, tôi vẫn nhớ như in những khuôn mặt của các em. Những khuôn mặt hiền lành, thân tình khó tìm ở thời buổi bát nháo bây giờ. Ra đời, nhờ lý lịch các em đa số làm quan chức, giờ đã về hưu. Lâu lâu gặp lại, cuốn phim của gần năm mươi năm trước lại quay về. 

Hôm nay ngày 20 tháng 11, ngày của nhà giáo, kỷ niệm tràn về, viết một bài ngắn để nhớ về một đoạn đời đã qua đi. Nhớ những người đồng nghiệp cùng đồng cam cộng khổ thời gian khó, nhớ những người đã mất, những người đang ở phương xa. 

Đoạn đời không dễ gì quên. Chúc các em, những người học trò trường Trung Phú Củ Chi ngày xưa luôn hạnh phúc, vui khoẻ và luôn giữ được mối thân tình đã có. Mãi thương quý các em.

Sài Gòn. 20.11.2023

DODUYNGOC


Rồi ai cũng phải già, người xưa bảo “thất thập cổ lai hi”, có nghĩa qua tuổi bảy mươi đã gọi là già, hiếm. Tuổi già khó vui, sức khỏe suy sụp, trí óc không còn minh mẫn như thời trẻ tuổi, hoạt động cũng vụng về, lóng ngóng và kéo theo nhiều nỗi buồn đau khác nữa. Người già, con cháu đã lớn, họ không còn quyền uy trong gia đình như thời xưa khi họ cố sức làm việc để nuôi nấng các con. Họ cô đơn trong chính ngôi nhà của họ. Nhất là những người đàn ông phải chịu cảnh vợ đã qua đời, chẳng còn ai để cùng sống với tuổi già.
Con cháu lớn lên có gia đình riêng phải lo, phải làm việc để xây dựng tương lai, có các con phải chăm sóc nên nhiều lúc người con quên mất mình còn một người cha. Người già cô độc với những nỗi buồn không được chia sẻ. Họ đến cùng bè bạn để tâm sự đôi điều, nhưng cũng chẳng bao giờ nói hết được nỗi lòng. Dù đang ở trong ngôi nhà do chính tay mình tạo dựng, dù không lệ thuộc kinh tế, tiền bạc của con cái, nhưng khi có việc nhờ con, người già phải xem sắc mặt, tâm trạng buồn vui của con mới dám mở lời. Người già lắm bệnh, nhưng những khi bệnh thông thường thì tự ý đi bác sỹ, một mình đi mua thuốc chứ ít khi làm phiền đến con. Đến khi bệnh nặng, đau đớn quá mới nhờ đến con giúp đỡ. Không phải các con không có hiếu với cha mà người già không muốn làm phiền đến con cái. Chuyện gì làm được thì tự làm. Tuổi già trí óc bắt đầu lộn xộn nên lắm lúc thường làm hư cái này, bể cái kia, hỏng cái nọ. Nếu có được con thông cảm thì hạnh phúc, nhưng gặp đứa trách móc thì cũng đành im lặng mà chịu trận. Nỗi cô quạnh của người già chỉ mong có một lời thăm hỏi, khi đau ốm mong được có người chăm lo. Nhưng thời nay, ai cũng bận rộn với công việc, ai cũng cố gắng miếng cơm manh áo nên người già cảm thấy tủi thân khi không được một lời quan tâm. Thường chỉ là một câu hỏi rồi thôi, người già sống như thế nào, ăn uống ra sao, sức khoẻ có vấn đề chi không, con cái ít để ý. Do vậy, người già sống lầm lũi, như cái bóng, như kẻ ở trọ trong căn nhà mình.
Đã qua tuổi bảy mươi, dù có nhà cửa đàng hoàng và kinh tế có còn tự lo được, nhưng tôi quyết định sẽ tìm một nhà dưỡng lão có đủ điều kiện theo mình yêu cầu để sống những năm tháng cuối đời. Ở đó tôi sẽ được chăm lo cơm ngày ba bữa, không còn cảnh cơm hàng cháo chợ. Ở đó sẽ có người lo thuốc men, chăm sóc khi trái gió trở trời, ở đó tôi không còn nghĩ là gánh nặng cho các con để chúng toàn tâm lo cho các con của chúng. Tôi đã làm tròn trách nhiệm với các con, tôi không nghĩ đến chuyện chúng phải báo hiếu, phụng dưỡng tôi lúc run rẩy vì chân yếu, kén ăn vì tuổi già. Nước mắt chảy xuôi mà, người ta đã nói thế.
Tôi đã đến nhà dưỡng lão Củ Chi, chỗ ấy cũng được nhưng xa quá, tôi sẽ không còn được gặp gỡ bạn bè. Tôi đang cố tìm một chỗ ngay trung tâm thành phố để tuổi già còn kiếm được niềm vui. Hôm trước có một anh bạn dự định mở một nhà dưỡng lão ở Hàng Sanh, vừa nghe tôi ủng hộ liền nhưng chắc kế hoạch này còn phải chờ một thời gian nữa.
Tuổi thanh xuân đã qua rồi, giờ đã lên hàng lão, về thu xếp lại cũng là vừa.
10.7.2023
DODUYNGOC

Bình luận

1.
Thu Lan Nguyen
Nhà có tiền, có nhà riêng, có con cháu mà vô trại dưỡng lão là vô cùng sai lầm …
( Khi sống chung trong Trại Dưỡng lão. 1 phòng 4 người ở Mỹ. VN thì 10 người 1 phòng. Nghe mùi khai nước đái , mùi cứt ỉa đùn chưa thay tã, nghe tiếng cạu cọ chửi nhau vì người thì thích bật quạt, người không thích.Người nằm rên rẩm con cháu bỏ rơi không vô thăm theo định kỳ…)
Nhà mình thì mình cứ ở, thơm tho sạch sẽ, yên tĩnh, thuê một người bà con họ hàng hoặc người dưng đến giúp việc cho mình trả lương tháng còn rẻ hơn trả cho trại dưỡng lão .
Tôi đã đi tham quan Trại dưỡng lão ở Mỹ rồi nên tôi biết rõ . Không hay gì đâu ! Bất đắc dĩ nghèo khổ và không con cháu mới phải vào thôi !
Tiêu chuẩn ở Mỹ .Người già trên 65 tuổi  nếu làm đơn xin trợ cấp chính phủ, họ sẽ duyệt cho mình mỗi tháng ít nhất 1200 usd , ngoài tiền mặt này, cho thêm tem phiếu cấp lấy thực phẩm miễn phí tại các siêu thị khoảng 800 đô trả bằng các ô tem  phiếu. Đến siêu thì mà chọn thịt cá , rau củ quả tươi, gạo ngon, bánh trái chất đầy xe , ra quầy trả tiền bằng tem phiếu cấp miễn phí hàng tháng này !
 Như vậy người già ở Mỹ được thụ hưởng khoảng 2000 usd/1 tháng ăn uống phủ phê , ăn tiêu gì hết , mỗi tháng còn có thể để dành tiền gửi về vn hoặc sắm vàng đeo đỏ tay.
Đó là tiêu chuẩn Mỹ dành cho người già neo đơn trên 65 tuổi, có đi làm và có đóng thuế thu nhập cho chính phủ.  4 năm liên tục ; không nhà cửa, không có tài sản trên 2000 đô , không ai nuôi nha các bạn ! 
Có quyền được sử dụng 1 xe ô tô dưới 2000 đô.
 Không đi làm ngày nào càng dễ xin tiền trợ cấp, xin càng nhanh và lẹ hơn là có đi làm dở dở ương ương vài năm …điều này vô lý , nhưng thực tế là vậy ! 
 Không đi làm xin tiền chính phủ,cấp càng nhanh chóng lẹ hơn có đi làm! ( Chắc sợ không có tiền thì làm bậy nên họ sợ chăng … ha ha ha …).
Khi ốm đau không tự phục vụ được, bảo hiểm y tế cử người tạp vụ đến phục vụ nấu cơm , giặt đồ, dọn dẹp lau nhà, đổ bô, tắm và dẫn cho mình đi bộ , luyện tập thể dục nhẹ . 
Hàng ngày và có ý tá đến tận nhà chăm sóc, đo huyết áp và tiêm chích thuốc theo toa bác sĩ , miễn phí điều trị. 
Khi về già sức yếu, bạn có thể thuê chính con trai, con gái ruột của mình, hoặc họ hàng phục vụ mình, tại nhà riêng của mình đang ở, tiền công này mỗi tháng chính phủ Mỹ sẽ trả 1200 usd tự chuyển vô tài khoản người mình thuê mướn . 
Mỹ cho phép thuê con cái ruột, cha mẹ ruột phục vụ!Chính phủ Mỹ họ vẫn trả tiền cho mình theo luật bảo hiểm y tế ! 

2.
Nguyễn Hồng Hưng
Người già đương đại đang bị bỏ rơi từ nhiều phía. Con cháu họ không đông đàn như thời cha ông. Đạo lý thời của họ bở lơ đạo hiếu với cha mẹ. Ngay cả Các con cái người già hôm nay cũng sống trong cảnh khó.
Số người già có điều kiện kinh tê nhưng sống cô quanh hiện khá đông.
Có một số người có ý định tụ hợp những người bạn (đã biết nhau) cùng cảnh ngộ lập “ xóm cao tuổi”. Ý đồ thực hiện trên mội khu đất mua chung, làm những căn nhà nhỏ liên kế đủ cho mỗi người ở độc lập. Có dịch vụ bếp và y tế…
Các cụ còn tinh sáng tự hùn vốn làm nhà “tình bạn dưỡng lão” chung sống cùng nhau …tôi hưởng ứng phương án này và cũng có vài bạn già hưởng ứng.
Nếu tập hợp đc bạn bè phù hợp nên chọn nới có khí hậu tốt cho người già và không xa quá 3 giờ xe đò. Ví dụ như Vũng Tầu.
Tôi tin phương án này sẽ trở nên phổ biển, các nhóm bạn già ở cả hai giới hiện nay không hề ít.
3.
Uyen Nguyen
Chị em mới rời nhà dưỡng lão đã ở 7tháng,để chuẩn bị về lại Mỹ.Vì ở viện dưỡng lão chung quanh có đông người nhưng 10 người 10 tánh dễ đụng chạm ,muốn ăn gì cũng ko ra ngoài được ,ở cùng phòng lỡ cùng người ko hạp tánh, thức ăn hàng ngày ko hợp vẫn phải ăn...tháng 15tr, chị đã 80t giờ đòi về Mỹ.Anh còn bạn bè con cháu xung quanh. Về thu xếp lại

MKRdezign

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget